Loading
Cho biết vướng mắc trong công chứng giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ gia đình
HOTLINE: 0903 835 468
Thế mạnh của công ty

Sài Gòn Minh Luật - Tư vấn - Hướng dẫn - Thực hiện các Dịch vụ:

Tranh tụng (dân sự, hình sự, kinh tế- thương mại, hôn nhân gia đình...)

- Dịch vụ giấy tờ nhà đất

- Dịch vụ thành lập doanh nghiệp

- Dịch vụ công chứng 

- Đại diện theo ủy quyền


 

 

 

 

 

 

Thứ ba, 29-7-2014

TƯ VẤN

ĐẠI DIỆN ỦY QUYỀN

Cho biết vướng mắc trong công chứng giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ gia đình Print
Thứ sáu, 17 9 2010 13:25
Vướng mắc trong công chứng giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ gia đình
Thời gian gần đây, các phòng công chứng ở thành phố phải đối đầu với một vấn đề gây nhiều vướng mắc khó giải quyết là công chứng các giao dịch liên quan đến Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho hộ gia đình
Hiện nay, pháp luật chưa quy định rõ căn cứ vào giấy tờ gì để xác định chính xác số lượng thành viên trong một hộ sử dụng đất. Giữa những quy định về hộ gia đình trong Bộ luật Dân sự và hộ gia đình trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) chưa có sự đồng nhất, chưa có hướng dẫn rõ ràng.
Theo quy định của điều 106 Bộ luật dân sự năm 2005, hộ gia đình được hiểu là hộ gia đình mà các thành viên có tài sản chung, cùng đóng góp công sức để hoạt động kinh tế chung, điều 107 Bộ luật Dân sự quy định Chủ hộ là đại diện của hộ gia đình trong các giao dịch dân sự vì lợi ích chung của hộ. Cha, mẹ hoặc một thành viên khác đã thành niên có thể là chủ hộ. 
Trong khi đó, Tại điều 43 Nghị định 181 thi hành Luật Đất đai lại quy định: Trường hợp quyền sử dụng đất là tài sản chung của cả vợ và chồng thì ghi cả họ tên vợ, họ tên chồng; trường hợp hộ gia đình đề nghị chỉ ghi họ tên vợ hoặc họ tên chồng thì phải có văn bản thoả thuận của cả vợ và chồng.
Các quy định nêu trên đã dẫn đến vướng mắc là: nếu các phòng công chứng căn cứ vào sổ hộ khẩu gia đình để xác định chủ sở dụng đất sẽ dẫn đến những bất cập khi chuyển dịch thửa đất đó, như người đứng tên chủ hộ trong GCNQSDĐ nhưng không phải là chủ hộ gia đình trong sổ hộ khẩu gia đình.
Trường hợp thực hiện các quyền của người sử dụng đất  thì vợ (chồng) của người có tên trong GCNQSDĐ và vợ (chồng) của các thành viên khác trong sổ hộ khẩu có phải ký vào hợp đồng chuyển nhượng không?Bên cạnh đó, trường hợp người đứng tên trong GCNQSDĐ khi được cấp Giấy có cùng hộ khẩu với ông bà, cha, mẹ, anh, chị nay người đó lại có hộ khẩu mới với các thành viên hoàn toàn mới, như vợ, bố mẹ vợ.
 Trường hợp này sẽ giải quyết ra sao khi trong sổ hộ khẩu cũ không còn tên của người đứng tên chủ sử dụng đất còn nếu căn cứ vào sổ hộ khẩu mới lại xảy ra trường hợp các thành viên trong sổ hộ khẩu mới lại không có quyền sử dụng đối với thửa đất đó.
Ngoài ra, một khó khăn rất lớn khi người đứng tên trong hộ sử dụng đất đã chết hoặc sổ hộ khẩu đã được đổi lại nhiều lần và hiện nay tên người đó không còn tên trong bất kỳ sổ hộ khẩu nào. Nếu trước khi chết, người đó còn độc thân, có tên một mình trong sổ hộ khẩu thì việc xác định người thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật không gặp khó khăn gì. Nhưng, nếu sổ hộ khẩu của người đó có tên nhiều người khác thì sẽ rất khó để xác định được chính xác khối tài sản mà người đó để lại.
Sổ hộ khẩu gia đình luôn chứa đựng những yếu tố biến động do quá trình tách, nhập, sinh tử.
Do đó, không thể đồng nhất giữa hộ gia đình trong sổ hộ khẩu với hộ sử dụng đất được.Hiện nay, khi cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, chính quyền địa phương vẫn theo nếp cũ khi cấp cho hộ gia đình đều ghi rất chung chung mà không tính đến những hậu quả khi hộ gia đình ấy đưa quyền sử dụng đất vào các giao dịch.
Thiết nghĩ, đối với những giấy chứng nhận đã cấp cho hộ gia đình thì cần thiết phải đính chính bổ sung chủ sử dụng đất từ hộ gia đình sang các cá nhân là thành viên, tức là ghi đủ tên các thành viên của hộ hoặc một hay một số cá nhân khi có căn cứ chứng minh nguồn gốc đất đó do cá nhân chuyển nhượng, được chia tách hoặc do thừa kế, tặng cho riêng.
Còn với những giấy chứng nhận đang trong quá trình xét, cấp thì chỉ cấp GCNQSDĐ cho hộ gia đình khi các thành viên trong hộ sử dụng đất cùng làm đơn đề nghị cấp GCNQSDĐ cho hộ, có xác nhận của UBND xã, đó sẽ là căn cứ xác thực để người dân có thể thực hiện các quyền, nghĩa vụ của người sử dụng đất và các Phòng công chứng cũng như các cơ quan, tổ chức hữu quan có thể xác định chính xác số lượng thành viên trong hộ sử dụng đất khi tham gia giao dịch.
Trường hợp đất đã cấp cho hộ gia đình mà một trong các thành viên trong hộ muốn tách ra một thửa riêng bằng văn bản thỏa thuận phân chia quyền sử dụng đất thì diện tích đất còn lại phải xác định rõ thuộc quyền sử dụng của những cá nhân nào trong các thành viên còn lại trong hộ.
Sự bất cập và có phần chồng chéo do quy định của pháp luật chưa thật đầy đủ, thống nhất cộng với nhận thức chưa rõ về quyền, nghĩa vụ cá nhân đối với tài sản trong khái niệm hộ gia đình đang ngày càng trở thành vật cản trong việc phát huy nguồn lực từ đất đầu tư cho xây dựng và phát triển. Thiết nghĩ, các ngành chức năng cần sớm ngồi lại với nhau để làm rõ những vướng mắc càng sớm càng tốt.

Thu Huyền

Sài Gòn Minh Luật st: Nguồn Sở tư pháp Hải phòng

Quý khách vui lòng liên hệ : Công ty Luật Sài Gòn Minh Luật khi có nhu cầu tư vấn. 

CÔNG TY LUẬT TNHH SÀI GÒN MINH LUẬT

VP: Tầng 6, Tòa nhà M-H, 728 - 730 Võ Văn Kiệt, P1, Q5, Tp.Hồ Chí Minh

Tel: 08 39225745         Fax: 08 39225746 

Website:  

http://www.congtyluatsaigon.com

http://www.saigonminhluat.com

http://www.saigonminhluat.com.vn

http://www.saigonminhluat.vn  

Email:  This e-mail address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it

Thạc sĩ - Giảng viên Nguyễn Thanh Minh

Thạc sĩ - Luật sư Nguyễn Tiến Đạt  

HOTLINE TƯ VẤN: 19006133