Loading
Chế độ bầu cử - nhìn từ góc độ đồng thuận xã hội và bảo vệ các nhóm xã hội dễ bị tổn thương
HOTLINE: 0903 835 468
Thế mạnh của công ty

Sài Gòn Minh Luật - Tư vấn - Hướng dẫn - Thực hiện các Dịch vụ:

Tranh tụng (dân sự, hình sự, kinh tế- thương mại, hôn nhân gia đình...)

- Dịch vụ giấy tờ nhà đất

- Dịch vụ thành lập doanh nghiệp

- Dịch vụ công chứng 

- Đại diện theo ủy quyền


 

 

 

 

 

 

Thứ ba, 23-9-2014

TƯ VẤN

ĐẠI DIỆN ỦY QUYỀN

Chế độ bầu cử - nhìn từ góc độ đồng thuận xã hội và bảo vệ các nhóm xã hội dễ bị tổn thương Print
Thứ tư, 10 11 2010 14:30

Đồng thuận xã hội là nền tảng cho sự ổn định và phát triển của mỗi quốc gia, là cội nguồn sức mạnh của mọi dân tộc. Có nhiều phương thức và biện pháp để đi tìm và đạt được sự đồng thuận xã hội. Xây dựng và thực thi một chế độ bầu cử tiến bộ, công bằng và hợp lý để các cơ cấu xã hội, nhất là các nhóm xã hội dễ bị tổn thương có tiếng nói trong các thiết chế dân cử là phương thức quan trọng để thực hiện sứ mệnh ấy.

1. Chế độ bầu cử tiến bộ, công bằng có vai trò quan trọng trong việc xây dựng đồng thuận xã hội

Không chỉ trong chế độ tư sản, mà chế độ xã hội chủ nghĩa cũng luôn tồn tại những mâu thuẫn xã hội. Có chăng, mâu thuẫn xã hội ở các nước xã hội chủ nghĩa nói chung và ở nước ta nói riêng về cơ bản không mang tính đối kháng như trong xã hội tư sản. Vì thế, trong bất cứ Nhà nước và xã hội nào, việc tìm kiếm một cơ chế kịp thời và hữu hiệu để giải quyết các mâu thuẫn xã hội luôn là nhiệm vụ cơ bản của Nhà nước và của hệ thống chính trị. Lý luận và thực tiễn ở nhiều quốc gia trên thế giới đã chỉ ra hai phương thức cơ bản để giải quyết mâu thuẫn, xung đột xã hội: phương pháp bạo lực và phương pháp hòa bình. Bầu cử là cách thức giải quyết xung đột, mâu thuẫn xã hội bằng biện pháp hòa bình.

Xây dựng đồng thuận xã hội chính là việc đi tìm tiếng nói chung của các lực lượng, các giai cấp, các sắc tộc, các tín ngưỡng, các bộ phận trong cơ cấu xã hội. Thông qua bầu cử, tiếng nói chung đó được chuyển hóa thành cơ quan đại diện. Chính vì vậy, Nghị viện/Quốc hội được nhân dân trao cho chức năng lập pháp. Thông qua hoạt động lập pháp, sự đồng thuận được cơ quan đại diện chuyển hóa thành pháp luật, thành các quyết sách của Nhà nước. Nhà khai sáng kiệt xuất Jean-Jacques Rouseau đã viết: “Lập pháp là đỉnh cao nhất của sự hoàn thiện mà sức mạnh tập thể có thể đạt tới”1. Chế độ bầu cử có vai trò nền tảng để kiến tạo sức mạnh tập thể đó.

Chế độ bầu cử tạo ra những thiết chế đại diện. Tính đại diện nhân dân tạo nên vị trí đặc thù của cơ quan đại diện. Thực chất, những thiết chế này tập hợp, phản ánh ý chí, nguyện vọng của nhân dân, thông qua hoạt động của bộ máy nhà nước để giải quyết những nhu cầu của họ. Suy cho cùng, cơ quan dân cử với tính đại diện đa dạng cho những bộ phận trong xã hội, là những cơ quan nhà nước có sứ mệnh hòa giải thông qua bàn luận, đối thoại, thậm chí thỏa hiệp2. Cơ quan đại diện chính là tấm gương phản chiếu xã hội trong phạm vi quốc gia (Quốc hội) hoặc trong từng địa phương (Hội đồng nhân dân) nhất định. Sự tranh luận trong cơ quan đại diện là hình ảnh “thu nhỏ’ của việc chia sẻ và cùng nhau tìm ra sự đồng thuận giữa các bộ phận xã hội. “Trong một nước lớn thì không thể mỗi công dân đều làm việc lập pháp, trong một nước nhỏ việc này cũng rất khó khăn, cho nên dân chúng thực hiện quyền lập pháp bằng cách giao cho các đại biểu của mình làm các việc mà các cá nhân không thể tự mình làm lấy”3. Các cá nhân chọn lựa những người đại diện cho mình trong việc lập pháp, xã hội đương nhiên cần đến bầu cử4. Vì lẽ đó, hầu hết các Nhà nước trong xã hội hiện đại ngày nay đã biến Nghị viện/Quốc hội thành cơ quan chuyên thực hành quyền lập pháp.

Chế độ bầu cử dân chủ là chìa khóa cho đồng thuận xã hội, là phương thức quan trọng để hòa hợp dân tộc. Diễn biến chính trị ở nhiều quốc gia trong lịch sử thế giới hiện đại đã cho chúng ta thấy rằng, để giải quyết khủng hoảng chính trị hay những xung đột xã hội, một trong những việc thường được các nước tiến hành là tổ chức tổng tuyển cử, vì kết quả bầu cử thể hiện “mẫu số chung” giữa các phe phái, các lực lượng, các bộ phận xã hội trong việc lựa chọn chính quyền. Tuy nhiên, cũng cần chú ý rằng, không phải tất cả bầu cử đều phản ánh ý chí chung đó. Nếu có sự gian lận, dối trá trong bầu cử, hay bầu cử được tiến hành trong điều kiện bạo loạn, niềm tin của nhân dân bị giảm sút, hoặc việc lựa chọn một “mô hình” bầu cử không phù hợp, thì chế độ bầu cử không những không giải quyết được các mâu thuẫn xã hội, mà ngược lại, nó có thể lại là “ngọn lửa” thổi bùng các xung đột xã hội5. Do vậy, bất luận trong xã hội nào, chế độ bầu cử không những cần dựa trên các nguyên tắc của bầu cử tự do, tiến bộ và công bằng, mà nó cần được thiết kế phù hợp với điều kiện, đặc điểm của mỗi thể chế chính trị, mỗi dân tộc, mỗi quốc gia.

2. Chế độ bầu cử tiến bộ, công bằng và hợp lý có vai trò quan trọng trong việc bảo vệ các nhóm xã hội yếu thế trong xã hội

Một chế độ bầu cử dân chủ cần bảo đảm tính cân đối, hợp lý, đại diện rộng rãi cho các bộ phận trong cơ cấu xã hội. Đến lượt nó, tính cân đối, hợp lý trong bầu cử, trước hết phụ thuộc vào bản chất, đặc điểm của chế độ chính trị, phụ thuộc vào tương quan lực lượng giữa các giai cấp, tầng lớp trong xã hội và phụ thuộc vào “thiết kế” của nhà làm luật. Có thể nói rằng, việc thiết lập một chế độ bầu cử hợp lý trở thành một yếu tố trung tâm của chính trị6.

John Stuart Mill7 đã nhấn mạnh rằng “Các nhóm thiểu số phải được đại diện đầy đủ, ấy chính là một phần mang tính bản chất của nền dân chủ. Không có điều này thì không thể nào có dân chủ thực sự mà chỉ là màn trình diễn giả dối của dân chủ mà thôi”8.  “Trong một nền dân chủ thực sự bình đẳng, mỗi tầng lớp hay bất cứ tầng lớp nào cũng phải được có đại biểu không phải là không theo tỉ lệ, mà phải theo tỉ lệ”9; ông cho rằng “nhóm thiểu số phải có được lượng quyền lực đúng như họ phải có”10. Có lẽ, đó là điều hợp lý bởi, “một yêu cầu, đồng thời là một biện pháp quan trọng của một hệ thống dân chủ là cần sự tham gia và đại diện của các lực lượng, các nhóm xã hội như các giai cấp, các dân tộc, các tôn giáo, các lực lượng chính trị, các lực lượng kinh tế khả năng tiêu biểu và đại diện cho tất cả các khu vực của xã hội không những đặt nền tảng cho việc xây dựng một xã hội đồng thuận mà không cần dùng đến bạo lực vào quá trình quyết định chính sách, mà nó còn hạn chế sự lũng đoạn, sự tác động của các tập đoàn kinh tế, các lực lượng chính trị trong việc hoạch định chính sách”11.

Kết quả bầu cử không đảm bảo cân đối về tính đại diện rất khó để chấp nhận trong một quốc gia có cơ cấu xã hội đa dạng. Nếu có một sắc tộc hoặc tôn giáo lớn, cố kết chính trị một cách chặt chẽ, thì những nhóm chủng tộc, hoặc tôn giáo “thiểu số” sẽ không có hoặc rất ít đại diện; và như vậy, họ không có tiếng nói hoặc có tiếng nói rất hạn chế trong cơ quan lập pháp. Kết quả bầu cử như vậy có thể dẫn đến những xung đột, hoặc ít nhất nó tiềm ẩn nguy cơ xung đột và bất ổn xã hội12. Theo John Stuart Mill, đảm bảo quyền bầu cử và sự bình đẳng trong bầu cử là phương thức quan trọng để các tầng lớp nhân dân bảo vệ quyền lợi cho chính mình. “Đàn ông cũng như phụ nữ, không cần thiết có quyền chính trị để mà thống trị, nhưng là để họ không bị cai trị tệ hại”13.

3. Tổng tuyển cử năm 1946 từ góc nhìn đồng thuận xã hội

Ở Việt Nam, những ngày đầu sau khi giành độc lập, tình thế hết sức khó khăn, thù trong, giặc ngoài, nhiều đảng phái chính trị như Việt Quốc, Việt Cách ra sức chống phá chính quyền cách mạng, chúng dựa vào quân Tưởng chiếm giữ một số nơi, quấy nhiễu, phá phách, cướp của, tống tiền, gây rối loạn trật tự trị an. Chúng rải truyền đơn, ra báo công khai xuyên tạc chính sách của Đảng, của Việt Minh, đòi loại các Bộ trưởng là đảng viên Cộng sản ra khỏi Chính phủ… Một số lực lượng phản động khác cũng nổi dậy ở một số nơi. Chưa bao giờ trên đất nước ta có nhiều kẻ thù đến thế14. Trước tình hình đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chủ trương Tổng tuyển cử và sau đó, áp dụng một số biện pháp mềm dẻo như nhượng bộ, dành thêm 70 ghế cho Việt Quốc, Việt Cách. Người nói “Trong lúc toàn thể đồng bào đang tranh đấu thì những đồng chí cách mạng Việt Nam ở hải ngoại không có thì giờ tham gia vào cuộc Tổng tuyển cử của dân ta. Vì thế, muốn tỏ sự đoàn kết của toàn dân, Chính phủ đã đề nghị với đại hội mở rộng số đại biểu ta thêm 70 người nữa. 70 người ấy là các đồng chí của Việt Nam Quốc dân đảng và Việt Nam cách mạng đồng minh hội ở hải ngoại mới về nước, và như thế là Quốc hội của ta tỏ cho thế giới, cho toàn dân biết là chúng ta đoàn kết nhất trí, mà đoàn kết nhất trí thì việc gì cũng thành công”15.

Cuộc Tổng tuyển cử ngày 6/1/1946 có ý nghĩa rất to lớn. Không những nó hợp pháp hóa quyền lực nhà nước, mà còn là giải pháp mang tính gốc rễ, căn bản để giải quyết những mâu thuẫn, những xung đột giai cấp, đảng phái. Nếu không có cuộc Tổng tuyển cử vĩ đại đầy ý nghĩa ấy cùng với sách lược ứng phó “dĩ bất biến, ứng vạn biến” khôn khéo, thử hỏi có cơ chế nào, biện pháp nào tốt hơn trong điều kiện “chưa bao giờ trên đất nước ta có nhiều kẻ thù đến thế” để “thu phục thù trong, giặc ngoài” mà không cần sử dụng bạo lực? Các lực lượng đối lập tìm mọi cách chống phá để cuộc bầu cử không thể thực hiện được, nhưng với khả năng vận động, khả năng tập hợp của chính quyền cách mạng và quan trọng hơn, bầu cử tự do là khát vọng ngàn đời của người dân Việt Nam “bỏ được lá phiếu có chết cũng hả dạ”, cuộc bầu cử vẫn được tổ chức. Khi cuộc bầu cử đã được tổ chức trong dân chủ, tự do, các lực lượng đối lập lại tìm cách để trì hoãn và không công nhận. Với sách lược khôn khéo của Chính phủ lâm thời, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, mặc dù không mong muốn, các lực lượng đối lập không thể không công nhận kết quả bầu cử. Nhưng vì sao bầu cử lại có vai trò to lớn như thế? Câu trả lời đơn giản nhưng đầy sức thuyết phục là: vì bầu cử thể hiện ý chí nhân dân, Nghị viện nhân dân ra đời trong cuộc Tổng tuyển cử là kết quả của lòng dân, của ý chí của toàn thể dân tộc Việt Nam.

Nhà sử học Dương Trung Quốc đánh giá về cuộc Tổng tuyển cử năm 1946: “Đó là một kỳ tích phi thường. Tổng tuyển cử với tất cả các phương thức có thể nói là đạt tới những tiêu chí của những nền dân chủ tiên tiến đương thời. Xét trên nhiều nội dung hoạt động cụ thể của Quốc hội thì đúng là Quốc hội hiện nay đang phấn đấu theo kịp… ngày xưa. Ví như trong bầu cử, cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên chấp nhận quyền tự ứng cử một cách rộng rãi. Thủ đô Hà Nội có 70  ứng viên mà dân vẫn chọn được số người trúng cử chỉ bằng 1/10 số người ra ứng cử. Chúng ta đều biết rằng những người được chọn này là hoàn toàn xứng đáng. Như vậy là do cách làm đúng và dân chủ thì chọn được nhân tài. Tỷ lệ nhân sỹ trí thức, các nhà công thương, không đảng phái rất cao”. PGS. Lê Mậu Hãn cho rằng: “Việc nhiều người thuộc các thành phần giai cấp và đảng phái khác nhau tham gia ứng cử và công khai phát biểu quan điểm chính trị và chương trình hành động của mình trước quốc dân đồng bào và trên báo chí đã thể hiện một không khí thực sự dân chủ và tinh thần đại đoàn kết dân tộc của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Có thể các ứng cử viên có những quan điểm chính trị và chương trình hành động khác nhau, nhưng tất cả đều đầy tinh thần trách nhiệm và tâm huyết với đất nước và cùng vì mục tiêu chung của dân tộc lúc bây giờ: kháng chiến kiến quốc. Chính điều này đã góp phần quan trọng vào thành công của Tổng tuyển cử 1946”16.

4. Chế độ bầu cử hiện hành với đồng thuận xã hội và các nhóm xã hội yếu thế

Trước hết, cần khẳng định rằng, pháp luật bầu cử Việt Nam được xây dựng, ban hành và thực thi trong những năm qua có vai trò to lớn trong việc xây dựng, củng cố chính quyền nhân dân và xây dựng khối đoàn kết toàn dân. Tuy nhiên, bên cạnh những điểm hợp lý, tiến bộ, chế độ bầu cử nước ta còn không ít bất cập, trong số đó, có những bất cập về tính đại diện.

Quốc hội Việt Nam là “tấm gương phản ánh dân tộc Việt Nam”. Nông dân Việt Nam là một trong ba “trụ cột” nền tảng của quyền lực nhà nước17 và mặc dù chiếm hơn 70% dân số, nhưng thử hỏi trong số 493 đại biểu Quốc hội khóa XII hiện nay, có bao nhiêu đại biểu là nông dân? Không hẳn cứ có bao nhiêu phần trăm dân số, thì phải có tỉ lệ tương ứng trong Quốc hội18; nhưng quả thật, với một đất nước ngàn năm văn minh lúa nước, cứ khoảng 10 người thì có 7 người là nông dân và hai phần ba lực lượng lao động làm việc trong lĩnh vực nông nghiệp, sống ở nông thôn, phụ thuộc vào nông nghiệp hoặc các hoạt động liên quan đến nông nghiệp19, thế mà chỉ có 13/64 tỉnh có ứng cử viên với tổng cộng 15/876 ứng cử viên (chiếm 1,7%) là đại diện cho Hội nông dân. Điều đáng nói là rất nhiều tỉnh thuần nông như Thái Bình, Hưng Yên, Ninh Bình, Bến Tre, Hậu Giang, Đồng Tháp, Sóc Trăng… không có ứng cử viên nào đại diện (đích thực) cho nông dân20. Như vậy, thực tiễn cho thấy giai cấp nông dân Việt Nam chưa có nhiều tiếng nói trong Quốc hội.

Thành tựu của Việt Nam trong việc thực hiện mục tiêu thiên niên kỷ, đặc biệt trong việc xóa đói giảm nghèo là rất đáng khích lệ21, nhưng Việt Nam vẫn nằm trong những nước kém phát triển, mức sống của người dân còn thấp, nhất là ở khu vực vùng sâu, vùng xa. Số hộ có mức thu nhập bình quân đầu người nằm ngay cận trên của chuẩn nghèo, nhất là theo chuẩn mới của Liên hợp quốc còn khá nhiều. Nông thôn Việt Nam với hơn 70% dân số vẫn là địa bàn mà tình trạng giữa nghèo và “hết nghèo” đôi khi chỉ “cách nhau” một cơn bão, một vụ mất mùa. Khả năng tái nghèo đối với họ còn rất cao, thực tiễn nước ta trong thời gian qua đã cho thấy rất rõ điều đó. Người nghèo là những đối tượng dễ bị tổn thương nhất trong xã hội. Họ rất cần sự quan tâm của Nhà nước và sự giúp đỡ của xã hội. Cần phải thấy rằng, không thể giải quyết triệt để vấn đề bằng các hoạt động cứu trợ, tình thương, tình nghĩa. Sự tương thân, tương ái, đùm bọc, che chở lẫn nhau giữa các giai tầng, các bộ phận, các nhóm xã hội là rất cần thiết, nhưng chưa đủ. Các hoạt động đó, dù có đều đặn và thiện chí đến mấy cũng chỉ là các biện pháp xã hội, nhân đạo và mang tính tình thế. Vấn đề quan trọng là cần có cơ chế để lắng nghe tiếng nói từ đáy lòng của họ. Trong một báo cáo của Ngân hàng thế giới năm 2002 mang tên “Tham vấn với người nghèo” những người nghiên cứu đã tìm hiểu 20.000 người nghèo ở 23 quốc gia và cho thấy, điều “phân biệt rõ nhất giữa người nghèo và người giàu là thiếu tiếng nói. Tức là họ không có khả năng được đại diện. Không chuyển tải tới những người có trách nhiệm những suy nghĩ của họ. Không có gì để soi sáng tình trạng bất bình đẳng của mình. Đó là tình trạng thiếu tiếng nói, mất khả năng nói lên suy nghĩ của mình”22.

Công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước không nên hiểu máy móc và phiến diện là đơn thuần mọc lên nhiều nhà máy, xí nghiệp; đó càng không phải là việc ít quan tâm đến các nhóm xã hội dễ bị tổn thương. Có rất nhiều câu hỏi liên quan trực tiếp đến cơm, áo, gạo, tiền; đến cuộc sống mưu sinh của những người thuộc nhóm yếu thế trong xã hội. Không thể giải quyết căn bản những vấn đề đó theo kiểu sự vụ khi có tiếng kêu cứu từ họ, hay do lòng tốt của các giai cấp, tầng lớp khác hoặc theo sự “ngẫu hứng” của các cơ quan có thẩm quyền quyết định chính sách... Để giải quyết từ “gốc”, chính nhóm xã hội dễ bị tổn thương phải có quyền quyết định chính sách để bảo vệ quyền lợi chính đáng của mình. Muốn tiếng nói của họ được lắng nghe, muốn có chính sách đảm bảo quyền lợi của họ, họ cần có đại diện hợp lý và đích thực trong cơ quan dân cử. Có ý kiến cho rằng, không nên quan niệm cứ phải có một chị nông dân trong Quốc hội thì mới có người đại diện cho giai cấp nông dân; không phải cứ có một nhà khoa học “ngồi” trong Quốc hội thì mới có tiếng nói của tầng lớp trí thức trong Quốc hội. Đại diện ở đây là đại diện cho cái “tâm”, cái “trí”, cái “dũng” hơn là đại diện bởi con người cụ thể. Một nhà khoa học có cái tâm vì người nông dân, có cái trí để hiểu cuộc sống của người nông dân, có cái dũng để mạnh dạn nói lên tiếng nói vì người nông dân tại diễn đàn Quốc hội tại sao không thể coi là người đại diện chân chính cho giai cấp nông dân?23. Điều này đúng nhưng có lẽ chưa toàn diện, chưa nói tới tận cùng của vấn đề. Đúng, nhà khoa học hoàn toàn có thể vì người nông dân (và vì người khác nữa), nhưng cái tâm của nhà khoa học trước hết là cái tâm của họ, cái trí của nhà khoa học trước hết để hiểu cuộc sống của họ, và cái dũng của nhà khoa học trước hết để nói lên tiếng nói của chính họ. Lý do rất đơn giản: đã phàm là con người thì sự ích kỷ (trong đó trước hết vì mình) vốn luôn tồn tại như một thuộc tính tự nhiên.

John Stuart Mill quan niệm về cơ quan đại diện “không phải là một chọn lọc từ những trí tuệ chính trị lớn nhất của đất nước mà qua ý kiến của những người này rất khó suy ra đúng được ý kiến của dân chúng, nhưng khi được thành lập đúng cách thì những hội đồng này là một mẫu chính xác cho mọi trình độ trí tuệ trong nhân dân, mà tất cả đều được quyền có tiếng nói trong các công việc chung. Phần việc của họ là chỉ ra những gì cần thiết, là cơ quan đưa ra các đòi hỏi của dân chúng và là một nơi để tranh cãi lật đi lật lại mọi ý kiến liên quan tới những việc chung dù lớn hay nhỏ”24. Ông nhấn mạnh: “Một đa số cử tri luôn có một đa số đại biểu; nhưng một thiểu số cử tri cũng phải luôn luôn có một thiểu số đại biểu. Một người so với một người. Họ phải có đại diện đầy đủ như nhóm đa số. Nếu họ không được như thế thì sẽ không có chính thể bình đẳng mà là chính thể bất bình đẳng và đặc quyền: một bộ phận dân chúng cai trị những bộ phận kia, có một bộ phận mà phần chia ảnh hưởng bình đẳng và công bằng của họ bị chiếm đoạt mất; điều đó là trái ngược với mọi chính thể công bằng, nhưng trên hết là trái ngược với nguyên tắc dân chủ rao giảng sự bình đẳng như chính cội rễ và nền tảng của mình”25. Nhà khoa học chính trị John Mueller cho rằng “Dân chủ thực sự là một điều dễ dàng - bất kỳ kẻ ngốc nào cũng có thể thực hiện được… Người dân không nhất thiết là người tốt hay cao quý, mà chỉ đơn thuần là tính toán những lợi ích tốt nhất của họ, và nếu được vậy, cần bày tỏ chúng”26.

Trong khi dân chủ trực tiếp ở Việt Nam còn mờ nhạt, thì vai trò của các thiết chế đại diện trong việc chuyển tải suy nghĩ của họ càng quan trọng. Nếu không nhận thức đúng đắn và giải quyết hợp lý vấn đề này, khoảng cách giữa các giai tầng xã hội có xu hướng càng nới rộng. Sự phân hoá giàu nghèo giữa các vùng, các nhóm dân cư có thể sẽ gia tăng, nhất là giữa nông thôn và thành thị; nông thôn và miền núi27. Nhu cầu của mỗi bộ phận xã hội, nhất là người nghèo là họ có tiếng nói chứ không phải đơn thuần chỉ là việc nhận sự ban phát.

5. Đổi mới chế độ bầu cử từ góc nhìn đồng thuận xã hội và bảo vệ các nhóm xã hội yếu thế

Những phân tích ở trên cho thấy cần sự đổi mới chế độ bầu cử để khắc phục sự bất cập về tính đại diện. Chế độ bầu cử cần đổi mới theo hướng bảo đảm cho Quốc hội, Hội đồng nhân dân một cơ sở xã hội rộng khắp, không những gồm những đại biểu đại diện cho giai cấp công nhân, đội ngũ trí thức… mà còn bao gồm những người đại diện cho nông dân và các tầng lớp yếu thế trong xã hội. Muốn làm được điều đó, theo chúng tôi:

Thứ nhất, cần khắc phục tính dàn trải, chồng lấn, thiếu nhất quán và trùng giẫm tiêu chí về tính đại diện trong chế độ bầu cử nước ta hiện nay28. Trong điều kiện hiện nay ở nước ta, khó có tiêu chí nào hoàn toàn bảo đảm tính hợp lý. Với đặc điểm của thể chế chính trị nước ta hiện nay, có thể lấy tiêu chí giai tầng xã hội như quy định của Hiến pháp29 để làm tiêu chí chính trong việc định hướng về tính đại diện trong quá trình xây dựng, áp dụng và tổ chức thực hiện pháp luật về bầu cử.

Thứ hai, cần nghiên cứu để có biện pháp nâng cao tính đại diện của nông dân trong các cơ quan dân cử. Mặc dù chiếm đa số trong xã hội, song hình bóng của nông dân trong các cơ quan dân cử, nhất là Quốc hội còn khá mờ nhạt. Cần nhắc lại rằng, không phải cứ chiếm tỉ lệ bao nhiêu phần trăm dân số thì có tỉ lệ tương ứng trong Quốc hội và các cơ quan dân cử khác, nhưng với thực trạng như đã phân tích ở trên, tăng tỉ lệ đại biểu cho nông dân là việc nên làm. Có thể nghiên cứu một số biện pháp được áp dụng tại một số nước trên thế giới như can thiệp vào sự phân vạch đơn vị bầu cử; dành riêng cho nông dân ở một số đơn vị bầu cử nhất định ở vùng nông thôn30.

Thứ ba, ấn định cho phụ nữ và những nhóm yếu thế trong xã hội một số “ghế” hay phân định một tỉ lệ nhất định trong cơ quan đại diện. Như vậy, trong quá trình thực hiện các công đọan bầu cử, nhất là các công đoạn liên quan đền việc đề cử, ứng cử, phải tăng cường số lượng ứng cử viên cho họ, như quy định một hạn mức nhất định cho phụ nữ khi đề cử ứng cử viên. Cũng như đối với nông dân, có thể dành riêng cho phụ nữ ở một số đơn vị bầu cử như kinh nghiệm của Ấn Độ trong bầu cử Hội đồng ở một số bang31.

Thứ tư, phân chia các đơn vị bầu cử theo tiêu chí địa lý sao cho các cộng đồng “nhóm nhỏ” (mà “định hướng” muốn cộng đồng đó có đại diện) sống tập trung trong địa dư của đơn vị bầu cử đó.

Tóm lại, sự tương tác, hỗ trợ, gắn kết giữa các bộ phận xã hội mang tính tất yếu và có mối quan hệ biện chứng. Mỗi lực lượng xã hội có vị trí, vai trò độc lập nhất định trong cơ cấu xã hội. Việc đảm bảo hợp lý tính đại diện của các bộ phận xã hội, nhất là các nhóm xã hội yếu thế trong các thiết chế đại diện là tạo ra cơ chế để họ tự bảo vệ mình. Đây là một quá trình cam go, không ít khó khăn, đòi hỏi sự đấu tranh lâu dài và bền bỉ, không những ở Việt Nam mà ở mọi quốc gia trên thế giới, vì suy cho cùng, sự phát triển của dân chủ trong lịch sử chính là cuộc đấu tranh của các nhóm xã hội yếu thế nhằm cải thiện vị thế của họ trong xã hội.

 

(1) Jean-Jacques Rousseau, Bàn về khế ước xã hội, Nxb. TP. Hồ Chí Minh, 1992, tr. 72 (Hoàng Thanh Đạm dịch).

(2) David Beetham, Parliament and Democracy in The twenty-first century a guide to good practice, Inter-Parliamentary Union, 2006, tr.1.

(3) Montesquieu, Tinh thần pháp luật, Nxb. Giáo dục và Khoa Luật Trường Đại học Khoa học Xã hội- Nhân văn, H., 1996, tr. 104.

(4) TS. Đặng Đình Tân (Chủ biên), Nhân dân giám sát các cơ quan dân cử ở Việt Nam trong thời kỳ đổi mới, Nxb. Chính trị Quốc gia, H. 2006, tr. 48, 49.

(5) Andrew Reynolds, Ben Reilly and Andrew Ellis With José Antonio Cheibub, Karen Cox, Dong Lisheng, Jorgen Elklit, Michael Gallagher, Allen Hicken, Carlos Huneeus, Eugene Huskey, Stina Larserud, Vijay Patidar, Nigel S. Roberts, Richard Vengroff, Jeffrey A. Weldon, “Electoral System Design: The New International IDEA Handbook”© International Institute for Democracy and Electoral Assistance 2005, tr. 6.

      Hoặc Judith Large and Timothy D. Sisk, “Democracy, Conflict and Human Security: Pursuing Peace in the 21st Century”, Copyright © International Institute for Democracy and Electoral Assistance ( IDEA) 2006, tr. 85-111.

(6) United Nations, Women & Elections,  March, 2005, tr.5.

(7) Tác giả của tác phẩm “Chính thể đại diện”. Tác phẩm này được coi là xem xét các vấn đề với tinh thần khách quan khoa học, các kết luận đưa ra đều có căn cứ lập luận rõ ràng; nó cung cấp những tri thức khả tín để nghiên cứu cơ sở của nền dân chủ phương Tây (thế kỷ XIX). Xem: John  Stuart  Mill  (Nguyễn Văn Trọng, Bùi Văn Nam Sơn dịch, giới thiệu và chú thích), Chính thể đại diện, Nxb. Tri thức, 2008, tr. 8. (8) John  Stuart  Mill, Sđd, tr. 215.

(9) John  Stuart  Mill, Sđd, tr. 209, 210.

(10) John  Stuart  Mill, Sđd, tr. 243.

(11)Mitchell O’Brien, Parliaments as Peacebuilders: The Role of Parliaments in Conflict-Affected Countries, © 2005 The International Bank for Reconstruction and Development/The World Bank, tr. 5.

(12) Xem: Electoral Systems for Divided Societies, Democracy and Deep-Rooted Conflict: Options for Negotiators (Editors:Peter Harris and Ben Reilly, With a Foreword by Kofi A. Annan, Contributors: Mark Anstey, Christopher Bennett, David Bloomfield, K. M. de Silva, Nomboniso Gasa, Yash Ghai, Peter Harris, Luc Huyse, Rasma Karklins, Michael Lund, Charles Nupen, David M. Olson, Anthony J. Regan, Ben Reilly, Andrew Reynolds, Carlos Santiso and Timothy D. Sisk). Democracy and Deep-Rooted Conflict: Options for Negotiators, Copyright © International Institute for Democracy and Electoral Assistance (IDEA) 1998, tr.192-201; hoặc xem: The United Nations, “Women and Elections: Guide to promoting the participation of  Women in  elections”, 2005, tr. 24, 25.

(13) John  Stuart  Mill, Sđd, tr.276.

(14)Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Lịch sử Quốc hội Việt Nam 1946-1960, Nxb. Chính trị quốc gia, H., 2000, tr.28.

(15) Lâm Quang Thự, Người con đất Quảng, Nxb. Đà Nẵng, 2005, tr. 189.

(16) Phùng Nguyên, Những chuyện ít biết về Tổng tuyển cử năm 1946, http://www.tienphongonline.com.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=84349&ChannelID=13

(17) Điều 2, Hiến pháp 1992 (đã được sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2001) quy định: “Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức”.

(18)Có nhiều yếu tố quyết định vấn đề này: kiểu đơn vị bầu cử, phương pháp xác định kết quả bầu cử. Ngoài ra, đối với mỗi quốc gia, trong những thời kỳ nhất định, có thể chấp nhận sự bất hợp lý về tính đại diện trong một biên độ giới hạn để thực hiện một nhiệm vụ chính trị nào đó (như khuyến khích sự cạnh tranh trong các thiết chế đại diện…).

(19)Liên hợp quốc tại Việt Nam, Báo cáo đánh giá chung của Liên hợp quốc về Việt Nam, Hà Nội, tháng 11/2004, tr. 5.

(20)Theo Bảng cơ cấu, thành phần kết hợp ứng cử viên đại biểu Quốc hội khóa XII: Chỉ có 13/64 tỉnh, TP. trực thuộc TW có ứng cử viên đại diện cho Hội nông dân: An Giang: 1, Bắc Kạn: 1, Gia Lai: 1, Hà Nam: 2, Hải Dương: 2, Kiên Giang: 1, Long An: 1, Nghệ An: 1, Sơn La: 1,Vĩnh Long: 1, TP. Cần Thơ: 1, TP. Hồ Chí Minh: 1, Thừa Thiên - Huế: 1; Xem: http://www.baucukhoa12.quochoi.vn/news/File/ThongkeUngcuvien/CC-TP-KETHOP)

(21)Chẳng hạn, thu nhập bình quân đầu người năm 2004 mới đạt khoảng 560 USD/năm, thì hiện nay đã lên khoảng 1.200 USD/năm.

(22)Ellen Hume, Freedom of The Press (Trong tác phẩm Nền tảng của chế độ dân chủ - Foundations of Democracy), The Bureau of  International Information Programs, U.S. Department of State, 12/2005,  tr. 5.

(23)Nguyễn Quang Minh, Bàn về tính đại diện nhân dân của Quốc hội (Văn phòng Quốc hội, Quốc hội Việt Nam-  những vấn đề lý luận và thực tiễn, Nhà xuất bản Tư pháp, Hà Nội, 2005), tr. 75, 76.

(24) John  Stuart  Mill, Sđd, tr. 175.

(25) John  Stuart  Mill, Sđd, tr. 209, 210.

(26) Ralph Ketcham, Citizenship and Good Democratic Government (trong tác phẩm Nền tảng của chế độ dân chủ -Foundations of Democracy),The Bureau of  International Information Programs, U.S. Department of State, 12/2005,  tr. 15.

(27) Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Việt Nam thực hiện các mục tiêu phát triển thiên niên kỷ, H, 8/2005, tr. 25.

(28)Xem: Vũ Văn Nhiêm, Tiêu chí và các yếu tố bảo đảm tính đại diện của Quốc hội, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, số 16(177), tháng 8/2010, tr. 22-32.

(29) Điều 2 Hiến pháp 1992 (đã được sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2001) quy định: “Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức”.

(30)Xem: Andrew Reynolds, Ben Reilly and Andrew Ellis With José Antonio Cheibub, Karen Cox, Dong Lisheng, Jørgen Elklit, Michael Gallagher, Allen Hicken, Carlos Huneeus, Eugene Huskey, Stina Larserud, Vijay Patidar, Nigel S. Roberts, Richard Vengroff, Jeffrey A. Weldon, “Electoral System Design: The New International IDEA Handbook”© International Institute for Democracy and Electoral Assistance 2005, tr. 122, 123; hoặc xem: David Beetham, Parliament and Democracy in The twenty-first Century A Guide To Good Practice, Inter-Parliamentary Union , 2006, tr. 24-26.

(31) Tổng số “ghế” chia thành ba nhóm, trong đó một nhóm chỉ toàn phụ nữ. Chẳng hạn, trong một đơn vị bầu cử được phân bổ 3 đại biểu, tất cả các ứng cử viên trong đơn vị này chỉ toàn phụ nữ, thì chắc chắn 3 ghế trong đơn vị bầu cử này là phụ nữ. Với cách này, ít nhất một phần ba số ghế là phụ nữ. Nếu để họ ứng cử chung với nam giới trong các đơn vị bầu cử, thì có thể họ trúng cử nhiều hơn 3, nhưng xác suất trúng ít hơn, thậm chí không ứng cử viên phụ nữ nào trúng cử là điều hoàn toàn có thể xảy ra. Một số địa phương của một số bang ở Ấn Độ áp dụng cách này - Xem: “Electoral System Design: The New International IDEA Handbook”, 2005 tr. 121.

Sài Gòn Minh Luật Theo: www.nclp.org.vn

Quý khách vui lòng liên hệ : Công ty Luật Sài Gòn Minh Luật khi có nhu cầu tư vấn. 

CÔNG TY LUẬT TNHH SÀI GÒN MINH LUẬT

VP: Tầng 6, Tòa nhà M-H, 728 - 730 Võ Văn Kiệt, P1, Q5, Tp.Hồ Chí Minh

Tel: 08 39225745         Fax: 08 39225746 

Website:  

http://www.congtyluatsaigon.com

http://www.saigonminhluat.com

http://www.saigonminhluat.com.vn

http://www.saigonminhluat.vn  

Email:  This e-mail address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it

Thạc sĩ - Giảng viên Nguyễn Thanh Minh

Thạc sĩ - Luật sư Nguyễn Tiến Đạt  

HOTLINE TƯ VẤN: 19006133