Loading
Chức năng của Viện kiểm sát nhân dân trong bộ máy nhà nước
HOTLINE: 0903 835 468
Thế mạnh của công ty

Sài Gòn Minh Luật - Tư vấn - Hướng dẫn - Thực hiện các Dịch vụ:

Tranh tụng (dân sự, hình sự, kinh tế- thương mại, hôn nhân gia đình...)

- Dịch vụ giấy tờ nhà đất

- Dịch vụ thành lập doanh nghiệp

- Dịch vụ công chứng 

- Đại diện theo ủy quyền


 

 

 

 

 

 

Thứ hai, 22-12-2014

TƯ VẤN

ĐẠI DIỆN ỦY QUYỀN

Chức năng của Viện kiểm sát nhân dân trong bộ máy nhà nước Print
Thứ năm, 25 11 2010 11:19

Những năm gần đây, có nhiều ý kiến đặt vấn đề chuyển đổi Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) thành mô hình Viện công tố như ở một số nước, nhất là sau khi có Nghị quyết số 48/NQ-TW ngày 24/03/2005 về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 và Nghị quyết số 49/NQ-TW ngày 02/6/2005 về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 của Bộ Chính trị. Các ý kiến tập trung vào hai nội dung cơ bản: (1) Viện kiểm sát nếu chuyển đổi thành Viện công tố sẽ tiếp tục trực thuộc Quốc hội hay trực thuộc Chính phủ và có vị trí, vai trò như một Bộ hoặc trực thuộc Bộ Tư pháp; (2) Viện công tố sẽ chỉ thực hiện chức năng thực hành quyền công tố hay thực hiện cả chức năng kiểm sát các hoạt động tư pháp như hiện nay. Để góp phần giải quyết vấn đề trên, phải nghiên cứu lịch sử, vị trí, chức năng… của VKSND trên nhiều phương diện, trong đó có vấn đề về chức năng nhà nước hiện nay của VKSND.

1. Chức năng của VKSND trong bộ máy nhà nước.

 Như chúng ta đã biết, chức năng của Nhà nước được phân loại thành ba chức năng cơ bản: chức năng lập pháp, chức năng hành pháp và chức năng tư pháp. Nghiên cứu về chức năng của Viện kiểm sát là đề cập đến hoạt động thực hiện một trong các chức năng Nhà nước nói trên. Vậy, VKSND thực hiện chức năng Nhà nước là thực hiện chức năng lập pháp, hành pháp hay tư pháp? Quan điểm truyền thống từ trước tới nay ở nước ta cho rằng, VKSND thực hiện chức năng tư pháp cùng với Tòa án nhân dân và các cơ quan khác. Vì quyền tư pháp ở nước ta được hiểu theo nghĩa rộng, nên thực hiện quyền tư pháp cũng hiểu theo nghĩa rộng và cơ quan tư pháp cũng hiểu theo nghĩa rộng.

Chúng tôi cho rằng, nghiên cứu chức năng của VKSND trong bộ máy nhà nước (BMNN) bắt buộc phải xuất phát từ bản chất của Nhà nước, quyền lực nhà nước (QLNN), nguyên tắc tổ chức QLNN  cũng như nguyên tắc tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước ta. Theo chúng tôi, ngoài sự khác biệt về nguyên tắc tổ chức QLNN, so với các nhà nước tư sản, ở nước ta không có sự cân bằng giữa các nhánh quyền lực cũng như không có sự đối trọng và chế ước lẫn nhau. Tuy nhiên, sự phối hợp giữa các nhánh quyền lực lại không có sự khác biệt lớn, bởi sự phối hợp trong việc thực hiện QLNN là yêu cầu tất yếu khách quan. Các nhánh QLNN mặc dù có tính độc lập tương đối nhưng nó không tồn tại biệt lập mà có mối quan hệ mật thiết với các nhánh quyền lực khác. Mối quan hệ giữa các nhánh quyền lực là mối quan hệ biện chứng, nhờ có mối quan hệ này mà các nhánh quyền lực được thực hiện có hiệu quả trong đời sống xã hội có giai cấp.

Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi năm 2001) lần đầu tiên chúng ta ghi nhận nguyên tắc “…QLNN là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp” trong văn bản có giá trị pháp lý cao nhất. Đây là cơ sở pháp lý quan trọng để chúng ta tiếp tục nghiên cứu để đổi mới về tổ chức và hoạt động của VKSND nói riêng và BMNN nói chung.

Từ khi Viện kiểm sát ra đời cho đến nay, chức năng của VKSND được quy định trong các bản Hiến pháp là kiểm sát tuân theo pháp luật (KSTTPL, còn gọi là kiểm sát chung) sau là kiểm sát các hoạt động tư pháp và thực hành quyền công tố. Đây là quyền hiến định và quyền đó là thực hiện chức năng Nhà nước. Tuy nhiên vấn đề này cũng còn nhiều ý kiến khác nhau, có người cho rằng, VKSND xét về chức năng Nhà nước chỉ có một chức năng duy nhất, KSTTPL, đây là chức năng thuộc tính, chức năng cơ bản của VKSND, chức năng dẫn đến sự ra đời của VKSND1. Theo chúng tôi, quan điểm này chưa thấy hết thẩm quyền của VKSND được quy định trong Hiến pháp cũng như cho rằng thực hành quyền công tố là chức năng của tố tụng hình sự nên mới cho rằng chức năng KSTTPL là chức năng Nhà nước duy nhất của VKSND.

Vì QLNN chỉ có ba quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp, cho nên hoạt động của cơ quan nhà nước (CQNN) cũng chỉ thực hiện ba chức năng: chức năng lập pháp; chức năng hành pháp và chức năng tư pháp. Theo đó, VKSND khi thực hiện chức năng Nhà nước của mình chỉ có thể thực hiện một trong ba chức năng nói trên mà không có riêng bất cứ một chức năng nào khác.

2. Chức năng kiểm sát tuân theo pháp luật (sau là kiểm sát hoạt động tư pháp) - Chức năng lập pháp

Kiểm sát tuân theo pháp luật là một trong những hình thức kiểm soát QLNN bên cạnh các hình thức giám sát và thanh tra, kiểm tra. Kiểm soát quyền lực là tất yếu khách quan đối với sự tồn tại và phát triển của xã hội có giai cấp. Xã hội càng phát triển, vai trò của Nhà nước càng lớn thì yêu cầu của kiểm soát QLNN càng cao. Quyền lực có thể được kiểm soát thông qua hai yếu tố: tổ chức và hoạt động. Tổ chức là cách thức tạo lập và xây dựng hệ thống quyền lực, các bộ phận cấu thành quyền lực, chức năng, giới hạn quyền lực của từng bộ phận, mối quan hệ qua lại giữa các bộ phận quyền lực, trình tự thủ tục thực hiện quyền lực… Tổ chức ở đây còn có nghĩa là tổ chức kiểm soát quyền lực: hệ thống kiểm tra, giám sát thực hiện quyền lực, hệ thống xử lý các vi phạm trong việc sử dụng cũng như thực hiện quyền lực. Hoạt động kiểm soát quyền lực bao gồm các giải pháp nhằm kiểm tra giám sát việc thực hiện quyền lực từ phía các chủ thể khác nhau, hệ thống các biện pháp xử lý nhằm đảm bảo tính đúng đắn trong việc sử dụng quyền lực, phục tùng quyền lực…2.Trong hai yếu tố kiểm soát quyền lực thì yếu tố tổ chức có ý nghĩa quan trọng nhất, bởi vì đây là khởi điểm cho việc sử dụng cũng như kiểm soát quyền lực3. Kiểm soát quyền lực từ yếu tố tổ chức được thực hiện thông qua cơ chế thiết lập QLNN, trong quan hệ với người chủ quyền lực với người nắm giữ quyền lực và trong quan hệ giữa các bộ phận nắm giữ quyền lực.

Sự kiểm soát quyền lực ở Nhà nước xã hội chủ nghĩa có sự khác biệt về chất so với sự kiểm soát của nhân dân trong xã hội tư sản. Sự khác biệt này thể hiện ở chỗ Nhà nước XHCN phải được tổ chức theo nguyên tắc tập trung dân chủ. Nguyên tắc này bảo đảm: nhân dân, thông qua những người đại diện của mình, có thể kiểm soát toàn bộ QLNN.

Từ những nội dung trên cho chúng ta thấy rằng, kiểm soát quyền lực là một nhu cầu tất yếu khách quan để thực hiện QLNN. Ở đâu có thực hiện QLNN thì ở đó có kiểm soát QLNN. Hoạt động kiểm soát QLNN không có mục đích “tự thân” mà mục đích của nó là nhằm góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả trong hoạt động của các CQNN, bảo đảm quyền lực không bị lạm dụng và sử dụng sai mục đích.

Là một hệ thống cơ quan độc lập thực hiện chức năng kiểm sát, vậy, quyền lực kiểm sát thuộc nhánh quyền lực nào? Và ai phân công chức năng này cho VKSND? Câu trả lời chỉ có thể là Quốc hội. Vì QLNN ta tập trung vào Quốc hội, cho nên Quốc hội là chủ thể phân công thực hiện QLNN bằng quyền lập hiến; và quyền lực kiểm sát của VKSND là phái sinh từ quyền lập hiến và lập pháp. Ở đây, hoạt động giám sát không phải là bản chất của Quốc hội, mà là chức năng để thực hiện nhiệm vụ mang tính bản chất của Quốc hội là cơ quan đại diện cao nhất của nhân dân. Đã có sự nhầm lẫn khi định nghĩa Quốc hội là cơ quan giám sát tối cao. Quốc hội có chức năng, có quyền thực hiện việc giám sát tối cao, nhưng đó không phải là bản chất của Quốc hội mà đó là nội dung, thẩm quyền của Quốc hội được Hiến pháp quy định4. Hoạt động giám sát của Quốc hội là hoạt động có tính tất yếu khách quan. Vì Quốc hội là chủ thể có quyền lập hiến và lập pháp, Quốc hội không thể không quan tâm đến Hiến pháp, các đạo luật do mình ban hành được thực hiện như thế nào. Lập hiến và lập pháp không phải là mục đích tự thân của Quốc hội. Với tư cách là cơ quan lập hiến, lập pháp, Quốc hội phải có quyền theo dõi, xem xét việc thực hiện các đạo luật trong thực tiễn. Quyền giám sát thực hiện Hiến pháp, luật là quyền thuộc về Quốc hội, là quyền chủ thể của Quốc hội. Chính vì vậy, hoạt động lập hiến, lập pháp và hoạt động giám sát của Quốc hội là hai hoạt động gắn bó khăng khít với nhau, không tách rời nhau, hỗ trợ nhau5. Do Quốc hội là cơ quan QLNN cao nhất có quyền lập hiến, thực hiện quyền lập pháp và phân công QLNN. Vì thế địa vị pháp lý của Quốc hội nước ta hoàn toàn khác biệt so với nghị viện của các Nhà nước tư sản. Để giám sát các chủ thể thực hiện QLNN, thực hiện Hiến pháp và các đạo luật do Quốc hội ban hành, Quốc hội có quyền giám sát tối cao đối với toàn bộ các cơ quan thực hiện QLNN. Tuy nhiên, Quốc hội không thể và không cần thiết phải tự mình trực tiếp thực hiện toàn bộ hoạt động giám sát đó. Quốc hội chỉ trực tiếp thực hiện quyền giám sát của mình trong những phạm vi  mà Quốc hội thấy cần thiết nhất, quan trọng nhất. Quyền giám sát tối cao của Quốc hội đó là quyền hạn và nhiệm vụ của Quốc hội xem xét hoạt động của Chủ tịch nước, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các thành viên khác của Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao trong việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật, trong các hoạt động thực tiễn về tổ chức và thực hiện Hiến pháp, luật và nghị quyết của Quốc hội về năng lực, trình độ và trách nhiệm của những người do Quốc hội bầu và phê chuẩn bằng các phương thức giám sát do luật xác định được tiến hành tại các kỳ họp của Quốc hội6.

Do Quốc hội chỉ giám sát tối cao như đã nói trên, nên Quốc hội phân công cho VKSND giám sát việc thực hiện QLNN ở tầng thấp. Vì vậy, quyền KSTTPL (kiểm sát chung) trước đây hay kiểm sát các hoạt động tư pháp hiện nay phái sinh từ quyền giám sát của Quốc hội. Việc Quốc hội phân công cho VKSND KSTTPL xuất phát từ “nhu cầu của cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa, đòi hỏi pháp luật phải được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất, đòi hỏi sự nhất trí về mục đích hành động trong nhân dân, giữa nhân dân và Nhà nước cũng như giữa các ngành hoạt động Nhà nước với nhau. Nếu không đạt được sự thống nhất trong việc chấp hành pháp luật thì sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội sẽ gặp nhiều khó khăn. Vì lẽ trên phải tổ chức ra VKSND để kiểm sát việc tuân theo pháp luật nhằm giữ vững pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo đảm cho việc pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất”7. Như vậy, hoạt động KSTTPL của VKSND là một dạng hoạt động có tính QLNN, có nguồn gốc phái sinh từ quyền giám sát của Quốc hội. Tính phụ thuộc của hoạt động kiểm sát trong quan hệ với hoạt động giám sát của Quốc hội còn thể hiện ở khía cạnh: bản thân hoạt động kiểm sát lại là đối tượng giám sát của Quốc hội. Quốc hội có quyền bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Viện trưởng VKSNDTC, trách nhiệm của Viện trưởng VKSNDTC báo cáo về hoạt động của ngành kiểm sát trong việc thực hiện nhiệm vụ bảo đảm cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất, chất vấn Viện trưởng, những nguyên tắc tổ chức và hoạt động đặc thù của Viện kiểm sát8. Như đã đề cập ở trên, cơ cấu của QLNN bao gồm quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. Trong đó, quyền lập pháp và giám sát tối cao do Quốc hội thực hiện. Vì vậy, chức năng KSTTPL của VKSND phái sinh từ chức năng giám sát tối cao của Quốc hội và do Quốc hội phân công thực hiện. Cho nên, có thể khẳng định rằng, KSTTPL là một chức năng Nhà nước của VKSND, thực hiện chức năng này là VKSND đã thực hiện một phần chức năng của Quốc hội.

Tuy nhiên, kể từ khi ra đời đến nay, VKSND luôn được coi là cơ quan tư pháp và quan điểm này đã được ghi nhận trong các văn kiện của Đảng cũng như thể chế hóa trong các văn bản quy phạm pháp luật. Vậy, hoạt động KSTTPL (kiểm sát chung trước đây) hoặc kiểm sát các hoạt động tư pháp hiện nay của VKSND có phải là hoạt động thực hiện chức năng tư pháp hay không? Và tại sao từ trước tới nay chúng ta vẫn thường cho rằng, VKSND là cơ quan cùng với Tòa án và các cơ quan khác thực hiện chức năng tư pháp. Vì chức năng tư pháp ở nước ta theo cách hiểu truyền thống được hiểu theo nghĩa rộng bao gồm:

- Chức năng giám sát việc tuân theo pháp luật.

- Chức năng tài phán.

- Chức năng bảo vệ pháp luật, bảo vệ lợi ích Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.

Theo chúng tôi, nếu cho rằng giám sát tuân theo pháp luật là một trong những hoạt động thực hiện chức năng tư pháp do VKSND thực hiện đối với Tòa án và các cơ quan khác thì có lẽ chưa thấy hết bản chất của cơ chế giám sát thực hiện QLNN. QLNN và kiểm soát quyền lực có thể được kiểm soát thông qua hai yếu tố: tổ chức và hoạt động. Như vậy, Quốc hội giao cho Tòa án thực hiện quyền lực tư pháp và giám sát hoạt động của Tòa án là thể hiện sự phân công và kiểm soát nhánh quyền lực tư pháp. Tuy nhiên, khi được giao thực hiện quyền lực tư pháp, Tòa án - chủ thể trung tâm của nhánh quyền lực này cũng phải có cơ chế kiểm soát thực hiện nhánh QLNN mà mình được giao. Bởi vì, cơ chế kiểm soát thực hiện QLNN có nhiều, nhưng có thể chia thành hai nhóm sau: cơ chế tự kiểm tra của mỗi hệ thống và cơ chế giám sát từ bên ngoài hệ thống. Đó là cách tiếp cận kiểm soát và cơ chế kiểm soát QLNN từ quan điểm hệ thống trong quá trình thiết kế mô hình về các cơ quan kiểm soát thực hiện QLNN. Như vậy, khi được Quốc hội phân công thực hiện quyền tư pháp, cơ quan tư pháp cũng phải có cơ chế thanh tra, kiểm tra việc thực hiện quyền tư pháp - cơ chế kiểm tra bên trong của hệ thống. Chúng ta biết rằng, mỗi nhánh quyền lực có vị trí, vai trò, tính chất và chức năng riêng nên cơ chế kiểm tra thực hiện nhánh quyền lực ấy cũng có đặc thù riêng. Để kiểm tra thực hiện quyền tư pháp nhằm đảm bảo cho quyền tư pháp được thực thi có hiệu quả, hiệu lực thì bản thân việc tổ chức thực hiện quyền tư pháp đã hình thành cơ chế kiểm tra việc thực hiện nhánh quyền lực này đó là: nguyên tắc hai cấp xét xử, thủ tục xét xử đặc biệt (giám đốc thẩm và tái thẩm)… là những hoạt động nhằm đảm bảo có quyền tư pháp hoạt động có hiệu quả.

Như vậy, VKSND KSTTPL trong việc thực hiện quyền tư pháp là giám sát. Cho nên, không thể nói VKSND KSTTPL là thực hiện chức năng tư pháp và cũng không thể gọi VKSND là cơ quan tư pháp được. Hơn nữa, qua sự phân tích trên cho chúng ta thấy rằng, quan niệm về quyền tư pháp theo nghĩa rộng là không phù hợp với nguyên tắc “…QLNN là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các CQNN trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp” nếu cho rằng VKSND là cơ quan tư pháp.

3. Chức năng thực hành quyền công tố - Chức năng hành pháp

Bên cạnh thực hiện chức năng KSTTPL, VKSND còn được giao thực hiện chức năng thực hành quyền công tố. Cơ sở để nghiên cứu chức năng của CQNN phải xuất phát từ thẩm quyền của CQNN. Do đó, chúng tôi không đồng tình với quan điểm cho rằng chức năng KSTTPL là chức năng Nhà nước duy nhất của VKSND.

Vậy, VKSND thực hiện chức năng thực hành quyền công tố xét dưới góc độ chức năng Nhà nước là thực hiện chức năng nào? Quan điểm truyền thống ở nước ta cho rằng, VKSND thực hiện chức năng thực hành quyền công tố dưới góc độ thực hiện chức năng Nhà nước là thực hiện chức năng tư pháp. Tuy nhiên, trên thế giới cũng như một số học giả ở Việt Nam lại quan niệm, quyền công tố là một quyền năng thuộc nhánh quyền hành pháp và do vậy VKSND thực hiện chức năng thực hành quyền công tố là thực hiện chức năng hành pháp. Theo quan điểm của chúng tôi, để xác định VKSND thực hiện chức năng Nhà nước nào (hành pháp hay tư pháp) khi thực hiện chức năng thực hành quyền công tố, chúng ta phải làm rõ “quyền công tố” là quyền năng thuộc nhánh quyền lực nào? Chỉ khi nào chúng ta lý giải một cách khoa học về vấn đề này thì mới có cơ sở khoa học để xác định vị trí của VKSND trong BMNN cũng như về chức năng trên của VKSND trong BMNN và trong tố tụng hình sự.

Ở nước ta hiện nay vẫn quan niệm quyền công tố thuộc nhánh quyền tư pháp là xuất phát từ việc nghiên cứu quyền tư pháp dưới góc độ tố tụng. Nếu tiếp cận quyền tư pháp dưới góc độ tố tụng, chúng ta sẽ không thấy được mối quan hệ, sự phối hợp giữa các nhánh quyền lực trong cơ cấu QLNN. Do đó, cơ sở lý luận để xác định quyền công tố có thuộc nhánh quyền tư pháp hay không phụ thuộc vào tiếp cận của chúng ta dưới góc độ luật Hiến pháp hay luật tố tụng. Nghiên cứu quyền tư pháp dưới góc độ luật Hiến pháp là đặt quyền tư pháp trong mối tương quan với quyền lập pháp và hành pháp. Tiếp cận dưới góc độ này, chúng ta sẽ thấy được sự khác nhau của quyền tư pháp trong mỗi chính thể cũng như mối tương quan, tác động qua lại của nó với các nhánh quyền lực khác.

Sự khác biệt lớn nhất của mô hình tư pháp trong các chính thể hiện đại của các nước và ở nước ta thể hiện ở chỗ: Quyền tư pháp trong các Nhà nước tư sản được tổ chức ngang bằng với các nhánh quyền lực khác nhằm mục đích kìm chế và đối trọng lẫn nhau. Sự ngang bằng thể hiện ở chỗ đối tượng tác động của quyền tư pháp không chỉ là các tranh chấp trong nhân dân và tranh chấp giữa cá nhân với Nhà nước mà Tòa án còn tài phán cả lập pháp và hành pháp. Còn ở nước ta, quyền tư pháp là nhánh quyền lực do Quốc hội phân công cho Tòa án và Quốc hội có quyền giám sát Tòa án thực hiện quyền lực này. Cho nên, quyền tư pháp không có vị trí ngang bằng và đối trọng với quyền lập pháp, tư pháp không có quyền phán xét lập pháp và hành pháp như ở các Nhà nước tư sản. Còn sự phối hợp giữa quyền tư pháp với các nhánh quyền lực khác ở nước ta (không ngang bằng, không đối trọng) cũng như ở các Nhà nước tư sản (ngang bằng và đối trọng) là không có sự khác biệt lớn.

Sự phối hợp thực hiện QLNN là tất yếu khách quan nhằm mục đích: đảm bảo sự liên thông quyền lực trong BMNN; để đảm bảo thực hiện mục tiêu chung; để hạn chế xung đột quyền lực; để hộ trợ thực hiện quyền lực; để hạn chế những khiếm khuyết trong quá trình thực hiện quyền lực; để tránh nguy cơ tái tập trung quyền lực; để hạn chế nguy cơ trùng lặp, chồng chéo quyền lực… Sự phối hợp tựa như “bà đỡ” cho sự phân công trong cơ chế phân công và phối hợp thực hiện QLNN.

Trở lại vấn đề, quyền tư pháp được hiểu như thế nào? VKSND có thực hiện quyền tư pháp hay không?  Vấn đề này hiện nay còn có nhiều quan điểm khác nhau về quyền tư pháp:

- Quan điểm thứ nhất cho rằng, quyền tư pháp là quyền bảo vệ pháp luật và hành chính tư pháp. Hình thức biểu hiện của quyền tư pháp là hoạt động có tính tài phán của cơ quan Tòa án. Cơ quan thực hiện quyền tư pháp bao gồm: Tòa án, Viện kiểm sát, công chứng, tổ chức luật sư, thi hành án, cơ quan tư pháp thuộc chính quyền địa phương.

- Quan điểm thứ hai cho rằng, quyền tư pháp là khả năng và năng lực riêng có của Tòa án chiếm vị trí đặc biệt trong BMNN thực hiện để tác động đến hành vi của con người, đến các quá trình xã hội9. Họ cho rằng quyền tư pháp và xét xử là hai khái niệm nhưng không đồng nhất. Hoạt động xét xử là một trong những nội dung cơ bản nhất và quan trọng nhất của quyền tư pháp. Chúng tôi đồng tình với quan điểm này và đây cũng là quan điểm được thừa nhận rộng rãi ở các nước trên thế giới.

- Quan điểm thứ ba cho rằng, quyền tư pháp là quyền xét xử của Tòa án và quyền của những cơ quan khác có liên quan trực tiếp đến quyền xét xử. Đây là quan điểm được thể hiện trong các nghị quyết của Đảng khi quan niệm về quyền tư pháp. Theo quan điểm này thì cơ quan thực hiện quyền tư pháp bao gồm: Tòa án, VKSND, cơ quan điều tra và các cơ quan bổ trợ tư pháp như: cơ quan giám định, luật sư, công chứng….

- Quan điểm thứ tư cho rằng, quyền tư pháp phải được hiểu theo cả nghĩa rộng và nghĩa hẹp. Ở nghĩa hẹp, quyền tư pháp được hiểu là quyền tài phán của Tòa án và cơ quan tư pháp chỉ có duy nhất là Tòa án. Ở nghĩa rộng, quyền tư pháp là quyền tài phán của Tòa án và quyền bảo vệ pháp luật của các cơ quan khác và cơ quan tư pháp cũng được hiểu là nhiều cơ quan khác nhau. Chúng tôi cho rằng đây là quan điểm “nhị nguyên” nhằm dung hoà giữa các nhóm quan điểm trên.

Quyền tư pháp, mặc dù cùng với quyền lập pháp và hành pháp hợp thành chỉnh thể QLNN thống nhất, nhưng có những đặc điểm riêng do bản chất của hoạt động tư pháp quy định. Để hiểu rõ hơn về quyền tư pháp chúng ta sẽ xét các hoạt động mang tính đặc trưng của nhánh quyền lực này để thấy được sự khác biệt của hoạt động tư pháp khác với hoạt động lập pháp và hành pháp. Những đặc trưng đó thể hiện ở nhưng nội dung sau:

- Hoạt động tư pháp là hoạt động nhân danh QLNN và nhân danh công lý để phán quyết.

- Hoạt động tư pháp là hoạt động có tính độc lập.

- Hoạt động tư pháp là hoạt động theo một trình tự tố tụng chặt chẽ, công khai, dân chủ và minh bạch.

- Hoạt động tư pháp trọng tâm là hoạt động xét xử.

- Hoạt động tư pháp là hoạt động phát sinh trên cơ sở của sự tranh tụng giữa các bên có lợi ích khác nhau.

- Hoạt động tư pháp là hoạt động bảo vệ pháp luật.

- Hoạt động tư pháp là hoạt động giải thích luật.

Với sự phân tích quan điểm cá nhân về quyền tư pháp và đặc trưng của hoạt động tư pháp chúng tôi cho rằng, quyền công tố không phải là quyền năng thuộc nhánh quyền tư pháp, VKSND thực hiện chức năng thực hành quyền công tố cũng không phải là thực hiện chức năng tư pháp và do đó VKSND cũng không phải là cơ quan tư pháp.

Nếu quyền công tố không thuộc nhánh quyền tư pháp và đương nhiên nó cũng không thuộc quyền lập pháp thì có thể kết luận rằng: quyền công tố là quyền năng thuộc nhánh quyền hành pháp. Do đó, VKSND thực hiện chức năng thực hành quyền công tố là thực hiện chức năng hành pháp. Giải quyết vấn đề trên, chúng ta sẽ có cơ sở lý luận khi chuyển đổi VKSND thành Viện công tố trực thuộc cơ quan nào trong BMNN.

Quyền công tố là quyền năng thuộc nhánh quyền hành pháp, thực hành quyền công tố là thực hiện một trong những chức năng nói trên của quyền hành pháp. Do vậy, thực hành quyền công tố là một trong những hoạt động thể hiện rõ nét chức năng đảm bảo an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội và chức năng bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân trong các chức năng nói trên của chức năng hành pháp.

Như vậy, quyền công tố là một trong những quyền năng thuộc quyền hành pháp, cơ quan thực hành quyền công tố là cơ quan thực hiện chức năng đảm bảo an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội và chức năng bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân (chức năng hành pháp) và đương nhiên ở nước ta, VKSND là cơ quan duy nhất thực hiện chức năng này – chức năng hành pháp.

Nghiên cứu chức năng của VKSND trong BMNN và dưới góc độ thực hiện chức năng Nhà nước cho chúng ta thấy rằng: VKSND thực hiện chức năng KSTTPL là thực hiện chức năng giám sát (chức năng lập pháp) và thực hành quyền công tố (chức năng hành pháp). Cho nên, từ trước tới nay chúng ta vẫn quan niệm VKSND là cơ quan tư pháp, thực hiện chức năng tư pháp là chưa có cơ sở khoa học. Việc hiểu đúng chức năng Nhà nước của VKSND có ý nghĩa hết sức quan trọng và là nền tảng không thể thiếu được khi nghiên cứu chức năng của VKSND trong tố tụng hình sự. Hiểu đúng chức năng Nhà nước của VKSND thì mới hiểu đúng chức năng của VKSND trong TTHS. Giữa hai chức năng này có mối quan hệ mật thiết với nhau, đó là mối quan hệ giữa cái chung và cái riêng. Đây cũng là cơ sở lý luận hết sức quan trọng để chúng ta hoàn thiện chức năng của VKSND trong BMNN cũng như trong tố tụng hình sự.

Để làm sáng tỏ hơn nữa thực hành quyền công tố là chức năng thuộc nhánh quyền hành pháp thì việc nghiên cứu những chức năng của VKSND trong tố tụng hình sự là hết sức cần thiết. Thông qua việc nghiên cứu này sẽ cho chúng ta thấy được rõ ràng hơn, chi tiết hơn cũng như những đặc thù về chức năng của VKSND trong tố tụng hình sự.

(1) Nguyễn Xuân Thanh, “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về quyền công tố của VKSND trong tố tụng hình sự”, Luận văn cao học, trường Đại học Luật Hà Nội, năm 1998, tr 21.

(2) Nguyễn Mạnh Kháng, “Cơ chế kiểm soát quyền lực và vấn đề tổ chức BMNN”, TC Nhà nước và pháp luật số 8/ 2003, tr 21.

(3)TS Nguyễn Mạnh Kháng, Cơ sở khoa học của cơ chế kiểm tra, giám sát QLNN, trong “Giám sát và cơ chế giám sát thực hiện QLNN ở nước ta hiện nay”. tr 35.

(4) GS. TSKH Đào Trí Úc, Quan niệm về giám sát và việc thực hiện QLNN và các cơ chế thực hiện giám sát, trong “Giám sát và cơ chế giám sát thực hiện QLNN ở nước ta hiện nay”. tr 09.

(5) PGS. TS Nguyễn Thái Phúc “Hoạt động giám sát của Quốc hội và hoạt động kiểm sát của Viện kiểm sát” trong “Giám sát và cơ chế giám sát thực hiện QLNN ở nước ta hiện nay”. Tr 230.

(6) PGS. TS Trần Ngọc Đường “Quyền giám sát tối cao của Quốc hội và quyền giám sát của các cơ quan Quốc hội” trong ”Giám sát và cơ chế giám sát thực hiện QLNN ở nước ta hiện nay”. tr 158.

(7) Tờ trình về Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân 1960.

(8) PGS.TS Nguyễn Thái Phúc, Sđd, tr 241.

(9) Võ Khánh Vinh. “Về quyền tư pháp trong Nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân và vì dân ở nước ta” Tạp chí  Nhà nước & Pháp luật, số 8. 2003, tr 03.

Sài Gòn Minh Lut: Theo http://www.nclp.org.vn

Quý khách vui lòng liên hệ : Công ty Luật Sài Gòn Minh Luật để được tư vấn.

CÔNG TY LUẬT TNHH SÀI GÒN MINH LUẬT

VP: Tầng 6, Tòa nhà M-H, 728 - 730 Võ Văn Kiệt, P1, Q5, Tp.Hồ Chí Minh

Website:  

http://www.congtyluatsaigon.com

http://www.saigonminhluat.com

http://www.saigonminhluat.com.vn

http://www.saigonminhluat.vn  

Email:      This e-mail address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it

 

Thạc sĩ - Giảng viên Nguyễn Thanh Minh
Thạc sĩ - Luật sư Nguyễn Tiến Đạt