Loading
Những hạn chế của Luật Công chứng
HOTLINE: 0903 835 468
Thế mạnh của công ty

Sài Gòn Minh Luật - Tư vấn - Hướng dẫn - Thực hiện các Dịch vụ:

Tranh tụng (dân sự, hình sự, kinh tế- thương mại, hôn nhân gia đình...)

- Dịch vụ giấy tờ nhà đất

- Dịch vụ thành lập doanh nghiệp

- Dịch vụ công chứng 

- Đại diện theo ủy quyền


 

 

 

 

 

 

Thứ bảy, 25-10-2014

TƯ VẤN

ĐẠI DIỆN ỦY QUYỀN

Những hạn chế của Luật Công chứng Print
Thứ sáu, 26 11 2010 22:31

Những hạn chế của Luật Công chứng

1. Những vướng mắc và hạn chế của Luật Công chứng đối với hoạt động của các tổ chức hành nghề công chứng
a.Về thẩm quyền công chứng giao dịch bảo đảm bằng bất động sản
Dưới góc độ khoa học luật, giao dịch bảo đảm là giao dịch dân sự do các bên thỏa thuận hoặc pháp luật quy định về việc thực hiện biện pháp bảo đảm được quy định tại khoản 1 Ðiều 318 của Bộ luật dân sự năm 2005.
Theo đó, các giao dịch bảo đảm phải đăng ký theo quy định gồm: thế chấp quyền sử dụng đất, thế chấp rừng sản xuất là rừng trồng, cầm cố tàu bay, thế chấp máy bay, thế chấp tàu biển và các trường hợp khác nếu pháp luật có quy định (Nghị định 83/2010/NĐ-CP về đăng ký giao dịch bảo đảm, thay thế cho Nghị định 08/2000/NĐ-CP).
Theo khoản 1, khoản 2 Điều 47 của Luật Công chứng thì: công chứng viên của tổ chức hành nghề công chứng thực hiện công chứng hợp đồng thế chấp bất động sản trong phạm vi tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi có bất động sản. Trường hợp nhiều bất động sản thuộc các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương khác nhau cùng được thế chấp để bảo đảm thực hiện một nghĩa vụ thì việc công chứng hợp đồng thế chấp đó do công chứng viên của tổ chức hành nghề công chứng có trụ sở đặt tại tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi có một trong số bất động sản thực hiện.
Như vậy, việc quy định về thầm quyền công chứng hợp đồng thế chấp bất động sản đều được quy định cho mọi công chứng viên của tổ chức hành nghề công chứng trong phạm vi tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi có bất động sản.
Tuy nhiên, theo quy định tại khoản 3 Điều 93 của Luật Nhà ở thì: hợp đồng về nhà ở phải có chứng nhận của công chứng của UBND cấp huyện đối với nhà ở tại đô thị, chứng thực của UBND xã đối với nhà ở tại nông thôn (...)”. Trong khi đó, điểm a khoản 1 Điều 130 của Luật Đất đai quy định “hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất phải có chứng nhận của công chứng nhà nước; trường hợp hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất của hộ gia đình, cá nhân thì được lựa chọn hình thức chứng nhận của công chứng nhà nước hoặc chứng thực của Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có đất”.
Như vậy, thẩm quyền công chứng trong Luật Nhà ở được xác định căn cứ theo tiêu chí nhà ở tại đô thị hoặc nông thôn, trong khi đó thẩm quyền công chứng, chứng thực hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất được căn cứ theo tiêu chí chủ thể (hộ gia đình, cá nhân hoặc tổ chức) (Điều 47 LCC). Từ những quy định nêu trên đã tạo ra sự không thống nhất khi xác định thẩm quyền công chứng kể cả trường hợp chứng thực hợp đồng thế chấp của Luật Nhà ở và Luật Đất đai đã gây khó khăn cho người yêu cầu công chứng trong trường hợp yêu cầu công chứng hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và nhà ở vì phải đến các cơ quan khác nhau để công chứng, chứng thực. Theo đó, việc công chứng các hợp đồng này sẽ làm cho người dân tốn kém cả về chi phí, cũng như thời gian đi lại. 
Mặt khác, tại khoản 1 Điều 3 của Luật Nhà ở cũng quy định: trường hợp có sự khác nhau giữa Luật Nhà ở với pháp luật có liên quan về (...) giao dịch về nhà ở thì áp dụng quy định của Luật này. Bên cạnh đó, Khoản 1 Điều 3 của Luật Đất đai cũng quy định: việc quản lý và sử dụng đất đai phải tuân theo quy định của Luật này và chỉ trong trường hợp Luật này không quy định thì mới áp dụng các quy định của pháp luật có liên quan.
Như vậy, nếu không giải quyết để thống nhất các quy định nêu trên giữa các văn bản pháp luật: Luật Đất đai, Luật Nhà ở và Luật Công chứng thì những khó khăn, vướng mắc trong việc thực thi pháp luật vẫn tiếp tục tồn tại và việc thực hiện thẩm quyền công chứng của các tổ chức hành nghề công chứng cũng khó có thể mang tính thống nhất trong cả nước. Chẳng hạn, sau khi hợp đồng thế chấp bất động sản được giao kết giữa tổ chức tín dụng và cá nhân đã được thực hiện, khi xảy ra các sự kiện như: tranh chấp hợp đồng giữa bên thế chấp và bên nhận thế chấp (việc xử lý tài sản thế chấp); chia di sản thừa kế; tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú; quản lý tài sản của người vắng mặt tại nơi cứ trú, việc tuyên bố người mất tích, tuyên bố người chết; việc giải quyết tài sản chung là bất động sản của vợ chồng khi ly hôn... Những sự kiện này đều liên quan đến vấn đề về tài sản và nơi cư trú của cá nhân công dân và nơi tổ chức có trụ sở đăng ký hoạt động; việc giải quyết tranh chấp hợp đồng và các vấn đề nêu trên do Tòa án của địa phương nơi công dân cư trú và nơi tổ chức có trụ sở đăng ký hoạt động giải quyết trong khi Điều 2 Luật Cư trú quy định: "...Cư trú là việc công dân sinh sống tại một địa điểm thuộc xã, phường, thị trấn dưới hình thức thường trú hoặc tạm trú". Do vậy, theo hướng đổi mới, ngoài việc nghiên cứu sửa đổi các văn bản pháp luật trên thì cần tiếp tục hoàn thiện các quy định của Luật Cư trú cho phù hợp với các quy định của Luật Công chứng và các văn bản khác có liên quan nhằm tạo điều kiện cho công dân thực hiện dễ dàng các hợp đồng, giao dịch bảo đảm, nhất là các giao dịch bảo đảm bằng bất động sản
b. Về “bản sao Giấy chứng minh nhân dân hoặc Hộ chiếu” trong hồ sơ yêu cầu công chứng, chứng thực
Theo quy định tại điểm 1.1. khoản 1 Mục II của Thông tư liên tịch số 04/2006/TTLT-BTP-BTNMT ngày 13/6/2006 của Bộ Tư pháp và Bộ Tài nguyên và Môi trường hướng dẫn việc công chứng, chứng thực hợp đồng, văn bản thực hiện quyền của người sử dụng đất thì trong “hồ sơ yêu cầu công chứng, chứng thực hợp đồng, văn bản về bất động sản” (trong đó có hợp đồng thế chấp bất động sản) phải có “bản sao Giấy chứng minh nhân dân hoặc Hộ chiếu”. Quy định này hiện nay đã thể hiện những hạn chế sau:
Một là, quy định trên chưa thể hiện cụ thể “bản sao Giấy chứng minh nhân dân hoặc Hộ chiếu” phải có trong hồ sơ là của người yêu cầu công chứng, chứng thực hay của chủ thể tham gia hợp hợp đồng thế chấp. Nếu là của chủ thể tham gia hợp đồng thế chấp thì áp dụng đối với các bên hay chỉ áp dụng đối với một bên, trong trường hợp chỉ áp dụng đối với một bên thì đó là bên nào, bên thế chấp hay bên nhận thế chấp. 
Đối với việc yêu cầu về “bản sao Giấy chứng minh nhân dân hoặc Hộ chiếu”, nếu áp dụng đối với các bên là tổ chức (ví dụ: bên nhận thế chấp là pháp nhân và có Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh) là không phù hợp, còn nếu áp dụng đối với người đại diện của tổ chức ký kết hợp đồng thế chấp thì cũng chưa thể hiện được.
Hai là, về việc tham gia hợp đồng thế chấp, hiện nay có nhiều trường hợp chủ thể tham gia hợp đồng thế chấp không có, bị mất hoặc hư hỏng Giấy chứng minh nhân dân, bị mất hoặc hư hỏng Hộ chiếu. Vì vậy, không đáp ứng được yêu cầu phải có bản sao giấy tờ này trong hồ sơ, cũng như “xuất trình bản chính” của giấy tờ này khi yêu cầu công chứng hợp đồng. Vì thế, nhiều trường hợp đã bị các tổ chức hành nghề công chứng từ chối công chứng hợp đồng thế chấp.
Quy định về “giấy tờ tùy thân”, theo điểm c khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 36 của Luật Công chứng thì đây là giấy tờ phải có trong hồ sơ yêu cầu công chứng. Tuy nhiên, quy định này đến nay vẫn chưa có hướng dẫn cụ thể nên nhiều khi phát sinh những khó khăn, vướng mắc tương tự như những khó khăn, vướng mắc nêu trên. Vì vậy, theo chúng tôi, thời gian tới các cơ quan nhà nước có thẩm quyền cần xem xét và tiếp tục cụ thể hóa các quy định liên quan tới các loại giấy tờ “tùy thân” này để bảo đảm cho các giao dịch, hợp đồng khi có yêu cầu công chứng. 
b. Về hồ sơ công chứng và chế độ lưu trữ hồ sơ công chứng
Tại khoản 1, Điều 53 của Luật Công chứng quy định: "Hồ sơ công chứng bao gồm phiếu yêu cầu công chứng hợp đồng, giao dịch, bản chính văn bản công chứng, bản sao các giấy tờ mà người yêu cầu công chứng đã nộp, các giấy tờ xác minh, giám định và giấy tờ liên quan khác".
Tại khoản 2, Điều 54 của Luật Công chứng quy định: "Bản chính văn bản công chứng phải được lưu trữ trong thời hạn ít nhất là hai mươi năm; các giấy tờ khác trong hồ sơ công chứng phải được lưu trữ trong thời hạn ít nhất là năm năm".
Như vậy, hồ sơ công chứng bao gồm phiếu yêu cầu công chứng, bản chính văn bản công chứng và các giấy tờ kèm theo để Công chứng viên sau khi xem xét hợp đồng và các giấy tờ kèm theo hồ sơ đảm bảo các quy định của pháp luật, thì Công chứng viên mới chứng nhận tính xác thực, tính hợp pháp của hợp đồng, giao dịch. 
Trên thực tế, việc công chứng những hợp đồng, giao dịch 10 năm hoặc 15 năm hay 20 năm sau mới xảy ra tranh chấp như: Hợp đồng cho thuê đất, thuê nhà; chia thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật...thì hồ sơ công chứng là những chứng cứ vô cùng quan trọng trong việc giải quyết các tranh chấp này. Tuy nhiên, hiện nay việc quy định về hồ sơ và chế độ lưu trữ hồ sơ công chứng chưa được quy định thống nhất theo khoản 2 Điều 54 của Luật Công chứng nêu trên.
Vì vậy, để bảo đảm các quy định về hồ sơ công chứng và chế độ lưu trữ hồ sơ công chứng được thống nhất, thì việc quy định Bản chính văn bản công chứng và các giấy tờ khác trong hồ sơ công chứng phải được quy định thống nhất về thời hạn lưu trữ.
c. Đối với người được miễn đào tạo nghề công chứng
Theo quy định tại Điều 15 của Luật Công chứng thì những người được miễn đào tạo nghề công chứng bao gồm:
"1. Đã là thẩm phán, kiểm sát viên, điều tra viên; luật sư đã hành nghề từ ba năm trở lên.
2. Giáo sư, phó giáo sư chuyên ngành luật, tiến sỹ luật.
3. Đã là thẩm tra viên cao cấp ngành toà án, kiểm tra viên cao cấp ngành kiểm sát; chuyên viên cao cấp, nghiên cứu viên cao cấp, giảng viên cao cấp trong lĩnh vực pháp luật".
Theo khoản 1 Điều 15 nêu trên thì đây chính là điểm chưa hợp lý vì hoạt động công chứng có đặc thù riêng, nếu điều tra viên chuyên điều tra kinh tế, luật sư chuyên về tư vấn liệu có bảo đảm nghiệp vụ đặc thù của nghề công chứng hay không. Thực tiễn khi thực hiện Luật Công chứng cho thấy, hầu như những người có đủ điều kiện bổ nhiệm công chứng viên nhưng chưa từng làm việc tại các tổ chức hành nghề công chứng khi bắt tay vào ký văn bản công chứng đều rất lúng túng. Đặc biệt đối với những người có tuổi, dù có chức danh tư pháp hoặc chức danh khoa học pháp lý rất cao (GS, PGS. TS luật) và có thời gian dài công tác pháp luật nhưng vì không va chạm gì đến các lĩnh vực hành chính, dân sự, kinh tế, thương mại nên dễ vấp phải những khó khăn khi công chứng các hợp đồng, giao dịch không có khuôn mẫu sẵn dẫn tới khá nhiều khiếu nại, phản ánh về chất lượng nội dung và hình thức của văn bản công chứng do một số Công chứng viên của các Văn phòng công chứng lập ra cho khách hàng. Thậm chí nhiều cơ quan hữu quan như: các tổ chức tín dụng, các Văn phòng đăng ký nhà, đất...yêu cầu công chứng lại hợp đồng, giao dịch có Công chứng viên phó mặc hoặc lệ thuộc hoàn toàn vào khả năng soạn thảo hợp đồng, giao dịch của thư ký. Nếu thư ký nghiệp vụ còn chưa có kinh nghiệm cả về tuổi đời, tuổi nghề, hạn thì họ sẽ làm việc một cách thụ động và hệ quả là thời gian cho một việc công chứng bị kéo dài, chất lượng "sản phẩm" công chứng thiếu đi sự nhuần nhuyễn cần thiết. Ngược lại, khi Công chứng viên không có tư duy nghiệp vụ sắc bén và hạn chế về kỹ năng soạn thảo văn bản công chứng sẽ dễ bị những thư ký nghiệp vụ hạn chế về phẩm chất dẫn dắt, lợi dụng. 
Trong khi đó những người thực tế làm 10 năm tại các PCC, sau khi đi học lấy chứng chỉ CCV và được bổ nhiệm theo quy định của Nghị định số 75/2000/NĐ-CP ngày 8/12/2000 của Chính phủ về công chứng, chứng thực hay được bổ nhiệm theo quy định của luật Công chứng) do điều kiện công tác, công chứng viên đó được tổ chức điều động chuyển làm công việc khác, nay có nhu cầu hành nghề công chứng, thì có nên đề nghị cho miễn đào tạo nghề công chứng không? Trong khi theo quy chế đào tạo họ vẫn phải học, tập sự theo luật định mà không hề được hưởng quy chế miễn. 
Như vậy, quy định nêu trên đã cho thấy có sự “vênh” về trình độ giữa các CCV đến từ những nguồn khác nhau dẫn đến một thực tế là cùng một hợp đồng giao dịch không thể được công chứng tại VPCC này nhưng lại có thể mang sang công chứng tại VPCC khác. Do đó, tính thống nhất ngay giữa các VPCC ngay trên một địa bàn cũng chưa có, đưn cử như ở Hà Nội. 
2. Phương hướng hoàn thiện các quy định pháp luật công chứng nhằm bảo đảm yêu cầu công chứng của tổ chức và công dân
a. Về thẩm quyền công chứng nói chung và thẩm quyền công chứng các hợp đồng bảo đảm bằng bất động sản theo địa hạt nói riêng
- Thẩm quyền công chứng được xác định theo Điều 2 của Luật Công chứng năm 2006, tuy nhiên so với quy định về thẩm quyền công chứng được quy định tại Nghị định 75/2000/NĐ-CP ngày 08/12/2000 của Chính phủ về công chứng, chứng thực (sau đây gọi là Nghị định 75) thì phạm vi thẩm quyền công chứng hiện nay bị thu hẹp hơn khá nhiều. Việc giới hạn thẩm quyền công chứng trong phạm vi hợp đồng, giao dịch như quy định của Luật là một hệ quả của sự tách bạch hành vi công chứng và chứng thực có phần khô cứng và máy móc. Vì vậy, theo chúng tôi các cơ quan hữu quan cần tiếp tục nghiên cứu, xem xét đến việc sửa đổi Luật Công chứng theo hướng kế thừa những tinh thần tốt đẹp của Nghị định 75 đối với việc xác định thẩm quyền công chứng là: tổ chức hành nghề công chứng được công chứng các việc thuộc thẩm quyền chứng thực của Phòng Tư pháp cấp huyện và UBND cấp xã. 
- Đối với những quy định liên quan đến công chứng các hợp đồng bảo đảm bằng bất động sản nói riêng trong các văn bản pháp luật cần được tiến hành rà soát để bãi bỏ, sửa đổi hoặc bổ sung nhằm đảm bảo phù hợp với quy định của Luật Công chứng. Tuy nhiên, trong thời gian trước mắt khi chưa thực hiện xong việc sửa đổi, bổ sung những quy định mới, tho chúng tôi về thẩm quyền công chứng hợp đồng bảo đảm bằng bất động sản phải được áp dụng thống nhất theo đúng nguyên tắc áp dụng pháp luật quy định tại khoản 3 Điều 80 của Luật Ban hành VBQPPL . 
Đây đồng thời là một vấn đề cần được quy định cụ thể nhằm tạo điều kiện cho việc thực thi pháp luật thống nhất, hiệu quả.
- Đối với việc hoàn thiện các quy định trong việc thế chấp bất động sản để thực hiện nghĩa vụ, cần sửa đổi, bổ sung khoản 2 Điều 47 của Luật Công chứng nhằm tạo điều kiện cho người dân khi thực hiện quyền thế chấp tài sản là các bất động sản hoặc động sản cho việc thực hiện nghĩa vụ. Theo chúng tôi, có thể sửa đổi quy định trên như sau: Nhiều bất động sản thuộc các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương khác nhau cùng được thế chấp để bảo đảm thực hiện một nghĩa vụ, thì việc công chứng hợp đồng thế chấp đó do công chứng viên của tổ chức hành nghề công chứng có trụ sở đặt tại tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi người yêu cầu công chứng thường trú hoặc tạm trú thực hiện; Trường hợp đối với tổ chức có yêu cầu công chứng thì công chứng viên của tổ chức hành nghề công chứng có trụ sở đặt tại tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, nơi tổ chức đăng ký hoạt động thực hiện việc công chứng. Quy định như vậy đảm bảo cho các quy định của pháp luật về công chứng được thống nhất, phù hợp và không trái với các quy định của Bộ Luật Dân sự, Luật Đất đai, Luật cư trú.
Việc sửa đổi như vậy, sẽ tạo điều kiện hết sức thuận lợi cho người dân trong điều kiện hiện nay khi tham gia thị trường kinh doanh bất động sản cũng như tạo điều kiện thuận lợi cho các quá trình phát triển kinh tế- xã hội đi vào ổn định.
b. Tiếp tục hoàn thiện quy định pháp luật về các loại giấy tờ trong công chứng các loại hợp đồng, giao dịch
Để bảo đảm và tạo điều kiện thuận lợi cho các hợp đồng, giao dịch khi có yêu cầu công chứng, theo chúng tôi thời gian tới cần tiếp tục sửa đổi và hoàn thiện hồ sơ, giấy tờ “tùy thân” theo hướng:
Thứ nhất, những giấy tờ nào được coi là “giấy tờ tùy thân”.
Liên quan đến nội dung này cho thấy, mục đích cơ bản của việc sử dụng “giấy tờ tuỳ thân” là để Công chứng viên xác định đúng tư cách chủ thể khi thực hiện công chứng. Tuy nhiên, quan niệm chung thường xem “giấy tờ tùy thân” chỉ gồm Giấy chứng minh nhân dân và Hộ chiếu, theo đó có thể phát sinh những khó khăn, vướng mắc như đã nêu trên, làm ảnh hưởng đến tính kịp thời và làm mất đi cơ hội của các bên trong giao dịch. Căn cứ vào mục đích của việc sử dụng “giấy tờ tuỳ thân”, chúng tôi cho rằng cần mở rộng quyền được dùng một số giấy tờ khác ngoài Giấy chứng minh nhân dân và Hộ chiếu, như:
- Đối với cá nhân công tác trong lực lượng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân, có thể sử dụng một trong các loại giấy sau: Chứng minh sỹ quan, Chứng minh quân đội, Giấy chứng nhận Cảnh sát nhân dân, Giấy chứng minh an ninh nhân dân, Giấy chứng nhận công nhân hoặc nhân viên trong lực lượng Công an nhân dân.
- Đối với người không quốc tịch cư trú tại Việt Nam: có thể sử dụng thẻ thường trú; 
- Đối với các trường hợp khác (mất, hư hỏng...): có thể sử dụng giấy tờ có xác nhận về nhân thân của cơ quan có thẩm quyền cấp các loại giấy tờ nêu trên, giấy tờ có xác định nhân thân do Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc cơ quan Công an nơi người đó thường trú xác nhận...
Thứ hai, hướng dẫn bản sao “giấy tờ tùy thân” có trong hồ sơ yêu cầu công chứng ngoài của người yêu cầu công chứng có bao gồm của những chủ thể tham gia hợp đồng thế chấp không; 
Thứ ba, quy định cụ thể những trường hợp phải có “bản sao giấy tờ tùy thân” của các bên thế chấp, của người có liên quan... (ví dụ, trong trường hợp thế chấp tài sản thuộc quyền sở hữu chung). 
c. Về việc miễn đào tạo và tập sự hành nghề công chứng 
Để đảm bảo cho các Văn phòng công chứng có năng lực hành nghề thật chắc chắn được thành lập, chúng tôi đề nghị Luật Công chứng cần sửa đổi theo hướng những người được miễn đào tạo nghề công chứng vẫn phải trải qua 6 tháng tập sự hành nghề công chứng tại một tổ chức hành nghề công chứng nhất định. Có như vậy mới nhanh chóng tạo ra sự đồng đều về năng lực hành nghề trong toàn hệ thống các tổ chức hành nghề công chứng. 

KẾT LUẬN
Hoạt động công chứng đã và đang được phát triển theo hướng chuyên nghiệp hóa. Một trong những điểm đổi mới căn bản, quan trọng hàng đầu của Luật Công chứng và Nghị định 79 là việc tách bạch và phân biệt rõ về bản chất, chức năng, nhiệm vụ, đối tượng và nguyên tắc hoạt động của công chứng và chứng thực. Công chứng từ chỗ được hiểu như một hoạt động mang tính chất thủ tục hành chính đơn thuần thì nay được coi là một nghề, một ngành chuyên môn sâu có chức năng bảo đảm sự an toàn pháp lý cho các hợp đồng, giao dịch, đặc biệt là các hợp đồng, giao dịch về bất động sản. Vì vậy, số lượng các hợp đồng, giao dịch được thực hiện tại các tổ chức hành nghề công chứng tăng cao hơn so với trước khi thực hiện Luật, các hợp đồng, giao dịch tăng không chỉ về số lượng mà cả tính phức tạp với giá trị hợp đồng lớn, nhiều hợp đồng có yếu tố nước ngoài...
Bên cạnh những kết quả đã đạt được, trong quá trình triển khai Luật Công chứng cũng bộc lộ những bất cập như đã phân tích ở phần trên. Vì vậy, để làm tốt hơn nữa công tác công chứng, Bộ Tư pháp cần tiếp tục đề nghị xây dựng và hoàn thiện thể chế về công chứng, nghiên cứu, đề xuất sửa đổi, bổ sung Luật Công chứng nhằm khắc phục những hạn chế, bất cập, tạo cơ sở pháp lý và phù hợp hơn cho phát triển hoạt động công chứng theo hướng chuyên nghiệp hóa; nghiên cứu đề xuất với Chính phủ cho xây dựng một đạo luật về chứng thực trình Quốc hội để điều chỉnh toàn diện hoạt động này...
Sài Gòn Minh Luật - Theo MP: Học viện Tư pháp tháng 10/2010

Quý khách vui lòng liên hệ : Công ty Luật Sài Gòn Minh Luật khi có nhu cầu tư vấn. 

CÔNG TY LUẬT TNHH SÀI GÒN MINH LUẬT

VP: Tầng 6, Tòa nhà M-H, 728 - 730 Võ Văn Kiệt, P1, Q5, Tp.Hồ Chí Minh

Tel: 08 39225745         Fax: 08 39225746 

Website:  

http://www.congtyluatsaigon.com

http://www.saigonminhluat.com

http://www.saigonminhluat.com.vn

http://www.saigonminhluat.vn  

Email:  This e-mail address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it

Thạc sĩ - Giảng viên Nguyễn Thanh Minh

Thạc sĩ - Luật sư Nguyễn Tiến Đạt  

HOTLINE TƯ VẤN: 19006133

Эта "игровые автоматы сердца" гора кажется какой-то "Тысяча и одна задача по математике: Книга для учащихся 5-7 класс" зловещей, произнес он.

Откуда-то "Музыкальные прописи" совсем рядом донесся "фильм хранители скачать" смеющийся голос.

Тем самым "Проверь себя" для меня Тадж-Махал "мистер кэт игры" исключается.

Схватив его меч, "Сказки. Братья Гримм" я повернул налево "толстой повесть детство краткое содержание" и сразу же раскроил "Приключения Пиноккио" череп второго "книга чужой скачать" нашего часового.

Если путь откроется, все должно измениться.

Снайпер, разумеется, ответил Чиун.