Loading
Nghị định số 99/NĐ – CP có vi phạm pháp luật?
HOTLINE: 0903 835 468
Thế mạnh của công ty

Sài Gòn Minh Luật - Tư vấn - Hướng dẫn - Thực hiện các Dịch vụ:

Tranh tụng (dân sự, hình sự, kinh tế- thương mại, hôn nhân gia đình...)

- Dịch vụ giấy tờ nhà đất

- Dịch vụ thành lập doanh nghiệp

- Dịch vụ công chứng 

- Đại diện theo ủy quyền


 

 

 

 

 

 

Thứ sáu, 19-12-2014

TƯ VẤN

ĐẠI DIỆN ỦY QUYỀN

Nghị định số 99/NĐ – CP có vi phạm pháp luật? Print
Thứ hai, 27 12 2010 08:22

Ngày 02/11/2009, Chính phủ ban hành Nghị định số 99/2009/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản (Nghị định 99). Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2010 và thay thế Nghị định số 159/2007/NĐ-CP ngày 30/10/2007 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản (Nghị định 159). Tuy nhiên, có những nội dung phải bàn lại trong Nghị định 99.

1. Quy định của pháp luật

1.1. Phạt xử lý hành chính

Điều 18 Nghị định 159 quy định mức phạt tiền cao nhất đối với hành vi phá rừng là: đến 4.500 đồng/m2 đối với rừng sản xuất; đến 6.000 đồng/m2 đối với rừng phòng hộ; đến 10.000 đồng/m2 đối với rừng đặc dụng. Nhưng Điều 17 Nghị định 99 quy định: Phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng nếu phá rừng trái pháp luật thuộc một trong các trường hợp sau đây: rừng sản xuất từ trên 3.000 m2 đến 5.000 m2; rừng phòng hộ từ trên 2.000 m2 đến 3.000 m2; rừng đặc dụng từ trên 700 m2  đến 1.000 m2. Theo quy định này thì mức phạt tiền cao nhất đối với hành vi phá rừng tính ra m2 là đến 16.667 đồng/m2 đối với rừng sản xuất; đến 15.000 đồng/m2 đối với rừng phòng hộ; đến 71.428 đồng/m2 đối với rừng đặc dụng.

Như vậy, mức phạt tiền đối với hành vi phá rừng theo quy định của Nghị định 99 nâng lên gấp nhiều lần so với mức phạt của cùng hành vi vi phạm quy định tại Nghị định 159.

1.2. Xử lý hình sự

Khoản 8 Điều 3 Nghị định 159 quy định “8. Những hành vi vi phạm sau đây không xử phạt vi phạm hành chính mà chuyển sang truy cứu trách nhiệm hình sự:…

b) Hậu quả hành vi vi phạm vượt quá mức tối đa xử phạt vi phạm hành chính quy định tại Điều 11; 12; 18; 19 của Nghị định này…

đ) Tái phạm các hành vi quy định tại Điều 175, Điều 189 Bộ luật Hình sự (BLHS) năm 1999”.

 Điều 18 Nghị định 159 quy định mức diện tích tối đa xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi phá rừng trái phép: rừng sản xuất là 8.000 m2; rừng phòng hộ là 6.000 m2; rừng đặc dụng là 4.000 m2.

Khoản 7 Điều 3 Nghị định 99 quy định:

“7. Những hành vi vi phạm sau đây không xử phạt vi phạm hành chính mà phải truy cứu trách nhiệm hình sự:...

b) Hành vi vi phạm gây hậu quả vượt quá mức tối đa xử phạt vi phạm hành chính quy định tại Điều 11, 17, 18; hành vi vận chuyển, buôn bán gỗ trái pháp luật vượt quá mức tối đa xử phạt vi phạm hành chính quy định tại Điều 20, 21 của Nghị định này”.

Điều 17 Nghị định 99 quy định mức diện tích tối đa xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi phá rừng trái phép: rừng sản xuất là 5.000 m2; rừng phòng hộ là 3.000 m2; rừng đặc dụng là 1.000 m2.

Như vậy, quy định mức khởi điểm phải xử lý hình sự đối với hành vi phá rừng (theo Điều 189 của BLHS) theo Nghị định 99 thấp hơn nhiều so với Nghị định 159, cụ thể: từ trên 8.000 m2 xuống còn trên 5.000 m2 đối với rừng sản xuất; từ trên 6.000 m2 xuống còn trên 3.000 m2 đối với rừng phòng hộ; từ trên 4.000 m2 xuống còn trên 1.000 m2 đối với rừng đặc dụng.

 Khoản 2 Điều 50 Nghị định 99 quy định xem xét hiệu lực trở về trước để xác định trách nhiệm pháp lý đối với hành vi vi phạm xảy ra từ trước khi Nghị định này có hiệu lực pháp luật (từ ngày 01/01/2010 và thay thế Nghị định số 159/2007/NĐ-CP ngày 30/10/2007 của Chính phủ) như sau:

“a) Những hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản phát hiện, lập biên bản trước khi Nghị định này có hiệu lực thi hành nhưng chưa xử phạt, nếu hành vi đó theo quy định của Nghị định này có mức phạt tiền thấp hơn Nghị định số 159/2007/NĐ-CP ngày 30/10/2007 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản thì xử phạt theo quy định của Nghị định này; trường hợp hành vi đó theo quy định của Nghị định này có mức phạt tiền cao hơn thì áp dụng quy định của Nghị định số 159/2007/NĐ-CP để xử phạt.

b) Những hành vi vi phạm xảy ra trước khi Nghị định này có hiệu lực thi hành nhưng sau khi Nghị định này có hiệu lực thi hành mới bị phát hiện, lập biên bản thì xử phạt theo quy định tại Nghị định này”.

2. Bất cập khi áp dụng

Theo quy định trên, nếu một người thực hiện hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản trước ngày 01/01/2010 (vào thời điểm Nghị định 159 đang có hiệu lực), nhưng chỉ bị phát hiện xử lý sau ngày 01/01/2010, thì phải áp dụng Nghị định 99 với mức xử lý trách nhiệm hành chính cao hơn nhiều lần so với việc áp dụng Nghị định 159 đang có hiệu lực vào thời điểm xảy ra vi phạm. Trường hợp nếu phát hiện, lập biên bản trước ngày 01/01/2010, nhưng chưa có quyết định xử phạt, đến thời điểm Nghị định 99 có hiệu lực pháp luật mới ra quyết định xử lý thì được áp dụng mức phạt quy định tại Nghị định 159 (với mức phạt thấp hơn). Cũng theo quy định này, hành vi phá rừng xảy ra vào thời điểm Nghị định 159 có hiệu lực pháp luật, có hậu quả dưới mức truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của Nghị định 159 nhưng vượt quá mức tối đa xử phạt vi phạm hành chính quy định tại Nghị định 99 thì  buộc phải áp dụng khoản 7 Điều 3 Nghị định 99 để truy cứu trách nhiệm hình sự. Do vậy, xảy ra một số tình huống sau:

- Trường hợp thứ nhất: Nguyễn Văn A, trú tại xã A, huyện Đăk Song, tỉnh ĐăkNông, ngày 15/11/2009 đã chặt phá 1.000 m2 rừng phòng hộ, bị Hạt kiểm lâm Iasup phát hiện lập biên bản. Ngày 15/01/2010, căn cứ điểm a Khoản 2 Điều 50 Nghị định 99 và điểm a, Khoản 2 Điều 18 Nghị định 159, Nguyễn Văn A bị xử phạt 2.000.000 đồng.

- Trường hợp thứ 2: Ngày 15/11/2009, Nguyễn Văn B ở xã B huyện Đăk Song phá 800m2 rừng phòng hộ, đến ngày 05/01/2010 bị phát hiện. Ngày 15/01/2010, căn cứ  điểm b, Khoản 2 Điều 50; điểm c Khoản 1 Điều 17 Nghị định 99, Nguyễn Văn B bị xử phạt hành chính 5.000.000 đồng.

- Trường hợp thứ 3: Trần Văn Y ở xã B huyện Đăkmil, tỉnh ĐăkNông trong khoảng thời gian từ tháng 10 đến tháng 11/2009 đã phá 7.000 m2 rừng sản xuất tự nhiên nhưng đến ngày 31/12/2009, hành vi phá rừng của Trần Văn Y vẫn không bị phát hiện. Căn cứ điểm c Khoản 1 Điều 18 Nghị định 159 thì hành vi phá rừng của Trần Văn Y sẽ bị xử lý hành chính với mức phạt là từ 3.000 đồng/m2 đến 4.500 đồng/m2. Đến ngày 10/01/2010, do bị nhân dân tố cáo, Y đã khai nhận toàn bộ hành vi phá rừng với hậu quả nêu trên với Cơ quan kiểm lâm. Căn cứ Điều 17; điểm b, Khoản 2, Điều 50; Khoản 7 Điều 3; Điều 46 Nghị định 99, Cơ quan kiểm lâm đã chuyển hồ sơ vụ việc sang Cơ quan Công an huyện Đăkmil để khởi tố, xử lý hình sự đối với Trần Văn Y.

 Với ba tình huống pháp luật nêu trên, giải quyết theo quy định tại Điều 50 Nghị định 99 đã dẫn đến việc xác định trách nhiệm pháp lý của công dân là nặng hay nhẹ với cùng một vi phạm lại tùy thuộc vào năng lực quản lý của chính quyền địa phương. Cho dù cùng hành vi, hậu quả, xảy ra cùng một thời điểm, nhưng có trường hợp chính quyền phát hiện sớm thì công dân sẽ được xử lý với mức phạt thấp, trường hợp phát hiện muộn (sau ngày 01/01/2010) thì công dân sẽ bị phạt nặng hơn, có trường hợp lẽ ra là xử lý trách nhiệm hành chính thì chuyển sang xử lý trách nhiệm hình sự.

Điều này không phù hợp với quy định tại Điều 3 Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính năm 2002 quy định nguyên tắc xử lý vi phạm hành là: mọi vi phạm hành chính phải được phát hiện kịp thời và phải bị đình chỉ ngay; việc xử lý phải nhanh chóng, công minh, triệt để; việc xử lý vi phạm hành chính phải căn cứ vào tính chất, mức độ vi phạm… Tuy nhiên, trong trường hợp này, chiếu theo Điều 50 Nghị định 99, trách nhiệm pháp lý nặng hay nhẹ đối với vi phạm lại không chỉ căn cứ vào mức độ, tính chất vi phạm mà còn căn cứ vào khả năng quản lý nhà nước của chính quyền địa phương.     

Quy định tại Điều 50 Nghị định 99 cho phép xem xét hiệu lực trở về trước để xác định trách nhiệm pháp lý đối với hành vi vi phạm xảy ra từ trước khi Nghị định này có hiệu lực pháp luật. Hiệu lực trở về trước của một văn bản quy phạm pháp luật quy định văn bản pháp luật đó được áp dụng để xác định trách nhiệm pháp lý với cả những hành vi đã xảy ra trước ngày văn bản quy phạm pháp luật đó được ban hành. Xét về mặt thời gian, một văn bản quy phạm pháp luật được ban hành có hiệu lực từ bao giờ là vấn đề có tầm quan trọng đặc biệt. Cũng qua cách thức xác định mốc thời gian một văn bản quy phạm pháp luật được ban hành bắt đầu có hiệu lực, có thể hình dung ra tính minh bạch, dân chủ của một hệ thống pháp luật. Như đã biết, trách nhiệm pháp lý là một loại quan hệ đặc biệt giữa chủ thể áp dụng pháp luật là Nhà nước (thông qua các cơ quan có thẩm quyền) và các chủ thể có hành vi vi phạm pháp luật, mà trong đó Nhà nước có quyền áp dụng quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật để xử lý các chủ thể vi phạm; các biện pháp được Nhà nước áp dụng đối với các chủ thể vi phạm được đảm bảo bằng các biện pháp cưỡng chế. Căn cứ vào bản chất, mối quan hệ giữa Nhà nước và các chủ thể mà có trách nhiệm pháp lý như: trách nhiệm hình sự; trách nhiệm dân sự; trách nhiệm hành chính…

Khi ban hành văn bản quy phạm pháp luật quy định trách nhiệm pháp lý, các cơ quan ban hành buộc phải tuân thủ các quy định trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008 (Luật BHVBQPPL). Xét về góc độ quy định hiệu lực trở về trước, theo Khoản 2 Điều 79 Luật BHVBQPPL năm 2008 thì, một văn bản quy phạm pháp luật không được quy định hiệu lực trở về trước đối với các trường hợp sau đây: quy định trách nhiệm pháp lý mới đối với hành vi mà vào thời điểm thực hiện hành vi đó pháp luật không quy định trách nhiệm pháp lý; quy định trách nhiệm pháp lý nặng hơn.

Như vậy, một văn bản pháp luật mới ban hành không được quy định hiệu lực trở về trước để xử lý trách nhiệm pháp lý đối với một cá nhân mà vào thời điểm thực hiện hành vi đó thì pháp luật không quy định trách nhiệm pháp lý hay trách nhiệm pháp lý nhẹ hơn, cho dù theo quy định của văn bản pháp luật mới xác định hành vi đó phải xử lý trách nhiệm pháp lý hoặc xử lý theo hướng nặng hơn. Mặt khác, Khoản 1 và 4 Điều 83 Luật BHVBQPPL năm 2008 khẳng định: văn bản quy phạm pháp luật được áp dụng đối với hành vi xảy ra tại thời điểm mà văn bản đó đang có hiệu lực. Trong trường hợp văn bản quy phạm pháp luật mới không quy định trách nhiệm pháp lý hoặc quy định trách nhiệm pháp lý nhẹ hơn đối với hành vi xảy ra trước ngày văn bản có hiệu lực thì áp dụng văn bản mới.

Theo đó, vi phạm bị phát hiện trước thời điểm văn bản pháp luật mới có hiệu lực pháp luật nhưng được xử lý hoặc mới bị phát hiện vào thời điểm văn bản quy phạm pháp luật mới có hiệu lực, thì cho dù cả hai văn bản (cũ, mới) đều xác định trách nhiệm pháp lý đối với một hành vi này, thì văn bản pháp luật nào quy định trách nhiệm pháp lý nhẹ sẽ được áp dụng để xử lý vi phạm.

Nguyên tắc quy định hiệu lực trở về trước có lợi cho người vi phạm đã được thể hiện nhất quán trong hệ thống pháp luật Việt Nam. Điều 2 BLHS năm 1999 quy định: “Chỉ người nào phạm một tội đã được BLHS quy định mới phải chịu trách nhiệm hình sự”. Điều đó có nghĩa là, chỉ người nào thực hiện một hành vi nguy hiểm cho xã hội, khi và chỉ khi hành vi đó đã bị cấm trong BLHS vào thời điểm thực hiện thì mới bị coi là tội phạm và phải chịu hình phạt.

Việc quy định như trên là sự thừa nhận nguyên tắc đã được ghi nhận tại Điều 11 Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền của Liên hiệp quốc: không ai có thể bị kết án khi có những hành động xảy ra vào lúc mà luật pháp của quốc gia hay quốc tế không quy định đó là tội phạm. Tương tự như vậy, không được áp đặt một hình phạt nào nặng hơn hình phạt được ấn định vào lúc hành vi phạm pháp xảy ra. Nguyên tắc này cũng phù hợp với nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa trong xây dựng pháp luật. Nguyên tắc pháp chế không cho phép áp dụng hiệu lực trở về trước không có lợi để xử lý tội phạm, bởi nó khiến người ta không thể biết trước hành vi mình thực hiện hôm nay có chắc chắn không vi phạm pháp luật hình sự ngày mai hay không. Thực hiện nguyên tắc nhân đạo xã hội chủ nghĩa, nguyên tắc quy định hiệu lực trở về trước chỉ được áp dụng trong BLHS đối với các trường hợp có lợi cho người phạm tội. Khoản 3 Điều 7 BLHS quy định:“Điều luật xóa bỏ một tội phạm, một hình phạt, một tình tiết tăng nặng, quy định một hình phạt nhẹ hơn, một tình tiết giảm nhẹ mới hoặc mở rộng phạm vi áp dụng án treo, miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt, giảm hình phạt, xóa án tích và các quy định khác có lợi cho người phạm tội, thì được áp dụng đối với hành vi phạm tội đã thực hiện trước khi điều luật đó có hiệu lực thi hành”.

Từ những vấn đề nêu trên cho thấy, Nghị định số 99/2009/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản, quy định xem xét hiệu lực trở về trước không có lợi cho người vi phạm để xác định trách nhiệm pháp lý đối với hành vi vi phạm xảy ra từ trước khi Nghị định này có hiệu lực pháp luật đã vi phạm Điều 79, 83 Luật BHVBQPPL năm 2008; Điều 3 Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính năm 2002 về nguyên tắc xử lý hành chính; vi phạm nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa. Riêng đối với quy định về xử lý hình sự đã vi phạm các điều 2, 7 BLHS.

3. Kiến nghị

Có thể nói, sự vi phạm pháp luật của Nghị định số 99/2009/NĐ-CP đã được phân tích rõ ở trên. Điều cần thiết là Chính phủ cần sớm có văn bản sửa đổi, bổ sung các quy định về hiệu lực thi hành tại Điều 50 của Nghị định.

Trước mắt, để bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người dân, cần căn cứ quy định của Luật BHVBQPPL để áp dụng pháp luật. Đối với riêng tình huống pháp luật thứ 3, Trần Văn Y phá rừng diện tích là 7.000 m2, diện tích này thấp hơn mức tối đa xử lý hành chính quy định tại Nghị định 159 nhưng lại vượt mức tối đa xử lý hành chính quy định tại Nghị định 99. Tình huống này có thể tham khảo thêm Mục II Thông tư liên tịch số 19/2007/TTLT/BNN&PTNT-BTP-BCA-VKSNDTC-TANDTC ngày 08/03/2007 (hiệu lực 02/05/2007) của Toà án nhân dân tối cao, Bộ Công an, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Bộ Tư pháp hướng dẫn áp dụng một số điều của BLHS về các tội phạm trong lĩnh vực quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản, quy định: mức tối đa bị xử phạt vi phạm hành chính (là mức để xem xét xử lý trách nhiệm hình sự) là mức tối đa thiệt hại về diện tích rừng… theo quy định của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản đối với mỗi hành vi vi phạm tại thời điểm vi phạm hoặc tại thời điểm xử lý, nếu tại thời điểm xử lý quy định mới của Chính phủ có lợi hơn cho người vi phạm.

Áp dụng nguyên tắc có lợi cho người có hành vi vi phạm khi xem xét xử lý đối với hành vi nêu trên, phải áp dụng mức tối đa xử phạt vi phạm hành chính quy định tại Điều 18 của Nghị định 159 để giải quyết. Theo quy định tại Nghị định 159 chỉ xem xét xử lý trách nhiệm hình sự trong trường hợp này khi thiệt hại trên 8.000 m2. Do hành vi của Trần Văn Y gây thiệt hại diện tích rừng là 7.000 m2 nên Y bị xử lý hành chính và căn cứ điểm c Khoản 1 Điều 18 Nghị định 159 để xác định mức xử phạt đối với Y.

Sài Gòn Minh Lut: Theo http://www.nclp.org.vn

Quý khách vui lòng liên hệ : Công ty Luật Sài Gòn Minh Luật để được tư vấn.

CÔNG TY LUẬT TNHH SÀI GÒN MINH LUẬT

VP: Tầng 6, Tòa nhà M-H, 728 - 730 Võ Văn Kiệt, P1, Q5, Tp.Hồ Chí Minh

Website:  

http://www.congtyluatsaigon.com

http://www.saigonminhluat.com

http://www.saigonminhluat.com.vn

http://www.saigonminhluat.vn  

Email:      This e-mail address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it

 

Thạc sĩ - Giảng viên Nguyễn Thanh Minh
Thạc sĩ - Luật sư Nguyễn Tiến Đạt